Monday, July 30, 2012

Lịch sử ngày Thánh Mẫu

image


“Năm 2012”là tựa đề một cuốn phim rất nổi tiếng cách đây 3 năm, cuốn phim mô tả một thiên tai như lụt thời Noe tận diệt nhân loại mà những người còn sống sót sẽ là tinh hoa của nhân loại không phải về mặt trí tuệ nhưng là nhân ái và yêu thương.
Ngày Thánh Mẫu 2012 đặc biệt hơn mọi năm, vì đây là một cái mốc đặc biệt để nhìn lại những điều kỳ diệu Chúa và Mẹ Maria đã thực hiện suốt 35 năm qua cho những người sống sót trong cuộc đào thoát vượt biển tìm tự do. Hay nói đúng hơn đây là lần thứ 35 Mẹ qui tụ tất cả con cái Mẹ đang tản mác khắp nơi trên khắp thế giới lại dưới bóng Mẹ tại thành phố Carthage nhỏ bé này, để Mẹ yêu thương che chở và khẳng định với họ là Mẹ vẫn luôn hiện diện ở đó với họ để đồng hành và săn sóc họ dù họ có lưu lạc đến phương trời nào đi nữa. Để cảm nghiệm được NTM chính là công việc của Mẹ Maria, chúng ta hãy nhìn lại 10 ngày Thánh Mẫu đầu tiên.


image


Năm 1975, vâng lời người Anh Cả dấu yêu rời Việt Nam để bảo tồn Hội Dòng, những tu sĩ Dòng Đồng Công đã mang theo trong tim mình ngọn lửa yêu mến Mẹ và họ vẫn luôn khắc khoải làm thế nào để tôn vinh Mẹ và loan truyền lòng yêu mến Mẹ cho những đồng bào Việt Nam đang tha hương trên đất khách quê người.

image

Năm 1977, để thể hiện sự khát khao mong mỏi cho mọi người yêu mến Mẹ, các bề trên Dòng đã quyết định tổ chức ngày tôn vinh Đức Mẹ và kêu mời những người Việt Nam đang định cư tại các thành phố gần nhà Dòng đến tham dự. Người đầu tiên làm trưởng ban tổ chức là linh mục Nguyễn Đức Thiệp, CMC. Số người tham dự có chừng hơn 500 người và nhà Dòng lo cả chỗ ngủ lẫn việc ăn uống của người hành hương. Vì lần này nhà Dòng đứng ra mời nên không gọi là Ngày Thánh Mẫu.
Ngày 3/6/1978 Ngày Thánh Mẫu lần đầu tiên được tổ chức với danh nghĩa là “Ngày Đền Tạ Trái Tim Mẹ” do Nguyệt San Trái Tim Mẹ điều hành với số người tham dự là 1.540 người. Không có Giám mục nào tham dự mà chỉ có 28 linh mục. Thế nhưng Ngày Thánh Mẫu lần thứ hai diễn ra trong 3 ngày 1-3/6/1979 không những con số người tham dự tăng lên gấp đôi, có Đức Hồng Y Carberry, Tổng Giám Mục St. Louis, MO và Giám mục sở tại là Đức Cha Benard Law chủ tọa mà còn có Cuộc cung nghinh Thánh Tượng Mẹ Fatima với việc máy bay tung hoa tươi và truyền đơn xuống địa điểm hành lễ.

image

Điểm qua mười NTM đầu tiên, cứ mỗi lần tổ chức là một lần nữa ghi đậm dấu ấn lời hiệu triệu của Mẹ với con cái của mình, bắt đầu từ NTM thứ 3, khách hành hương đã thấy đến từ các tiểu bang xa như California, Florida….Dịp này ĐGM đã truyền chức Phó Tế cho 5 tu sĩ Dòng Đồng Công.
Đến NTM thứ 4, số người tham dự đã hơn 6.000 người. Lần đầu tiên, một ca đoàn Tổng Hợp đầu tiên được thành lập gồm 14 ca đoàn thuộc một số cộng đoàn và giáo xứ trên khắp nước Mỹ cùng góp tiếng trong thánh lễ Đại Trào thứ Bảy 13/6/1981. Huy hiệu chính thức cho NTM đã được ban Tổ Chức chọn là huy hiệu hình tam giác có hai bàn tay chắp đang lần chuỗi. Huy hiệu này do cố tu sĩ Carôlô M.Đinh Bá CMC họa tặng NTM và anh đã chết vì bệnh ung thư xương chỉ mấy tháng sau NTM thứ 4, huy hiệu này vẫn được dùng cho tới ngày nay chỉ thay đổi màu sắc và ngày tháng cho mỗi năm.

image

NTM thứ 5 bắt đầu vào ngày 13-15 tháng 8 năm 1982 thay vì tháng 6 như trước, số người tham dự là 8.200 người. Lần này, ngoài ĐGM giáo phận còn có Đức Cha Giacôbê Huỳnh Văn Của thuộc giáo phận Phú Cường tham dự.

image

Với con số vượt kỷ lục là 16.000 người đã về tham dự NTM thứ 6 được tổ chức trong 3 ngày từ 12-14/8/1983. Trong lần tổ chức này, ĐGM giáo phận đã cắt băng khánh thành Công Trường Nữ Vương Hòa Bình với tượng Đức Mẹ Tỵ Nạn cao 34 feet. Một công trình được xây cất hơn 1 năm trời do cha Hòa CMC chủ trì với sự ủng hộ của một gia đình ẩn danh tại Port Arthur. Về mặt giáo quyền, lần đầu tiên Đức Khâm Sứ Tòa Thánh Pio Laghi tới tham dự NTM cùng 4 giám mục khác.

image

NTM thứ 7 từ  ngày 10-12-1984 trùng vào dịp kỷ niệm 2000 năm sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria. Chi Dòng Đồng Công được tổ chức Đạo Binh Xanh Quốc Tế cho phép đón rước tượng Mẹ Fatima Thánh Du về đặt tại Đền Thánh Khiết Tâm Mẹ. Đặc biệt năm nay có sự hiện diện của ĐTGM Ngô Đình Thục, nguyên TGM địa phận Huế.
Hơn 22.000 người đã nô nức đổ về thành phố Carthage, Missouri để tham dự NTM thứ 8 trong 3 ngày 9-11-1985, cũng là kỷ niệm 10 năm tha hương. Nhân dịp này, cha Barnabas Nguyễn Đức Thiệp, Giám tỉnh Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ và cha Piô Nguyễn Quang Đán, trưởng ban tổ chức đặt vòng hoa tưởng niệm những người đã chết vì tự do và hòa bình trên biển cả và trong suốt cuộc chiến.

image

NTM thứ 9 trùng với dịp Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ mừng kỷ niệm 33 năm thành lập Dòng 1953-1986, đã có tới 30.000 người đổ về khuôn viên Nhà Dòng. Cũng trong dịp đặc biệt này, Đức Hồng Y Bernard Law và Đức Khâm Sứ Tòa Thánh tại Hoa Kỳ cũng đến tham dự NTM.
Từ NTM thứ 10, ban tổ chức đã quyết định thời gian để tổ chức NTM sẽ là 4 ngày từ 6-9/8/1987. Dịp này, 40.000 người đã về tham dự NTM để mừng kỷ niệm 70 năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima. Dịp này mọi người đã hướng về Cha Bề Trên Đaminh Maria Trần Đình Thủ , Sáng Lập Dòng Đồng Công và một số linh mục tu sĩ đang bị tù tại Việt Nam.
Từ đó NTM được tổ chức ngày một nề nếp hơn và số người tham dự tăng dần lên cho đến năm 2011 vừa rồi có khoảng 65 ngàn người tham dự.

image
2011

image

image

Nếu có ai đó hỏi rằng điều đáng nói nhất trong 35 lần tổ chức NTM là gì? Phải chăng đó là an ninh luôn được đảm bảo hay thời tiết tốt đẹp …cho dù có đôi lần bị mưa, hay là nhà Dòng tổ chức, sắp xếp công việc chu đáo. Xin thưa: Không phải, mặc dù đây là những yếu tố quan trọng trong việc tổ chức. Điều đáng nói nhất ở đây chính là Mẹ Maria. Chính Mẹ đã chọn thành phố nhỏ bé này, và chính Mẹ đã soi sáng, dẫn dắt muôn người từ muôn phương về đây, không có sự quảng cáo hay sức mạnh nào có thể làm cho hàng chục ngàn người bỏ giường êm, nệm ấm để đến NTM mấy ngày liền, ngủ lều, nằm đất, chịu đủ thứ bất tiện. Ngoài Mẹ Maria không có một tổ chức nào, một Hội Dòng nào có thể làm được như vậy. Hầu hết những người đã đến tham dự NTM đều cảm nhận được Tình Mẹ Maria qua các bí tích, qua thời tiết, an ninh…….để có thể nói NTM là “những ngày của Mẹ.”




Thiên Minh



Ngày thánh Mẫu năm 2012
Từ ngày 2 tháng 8 đến ngày 5 tháng 8 năm 2012
Tại Tỉnh dòng Đồng Công Hoa Kỳ, Carthage, Missouri, USA


Hằng năm lại có một kỳ
Đại Hội Thánh Mẫu Car-thage ai ơi
Rủ nhau xếp việc nghỉ ngơi
Carthage xum họp vui nơi tình người…

(Thơ của Joseph Khoa Nguyễn)


Sunday, July 29, 2012

Vợ ta, vợ người.

Trăm năm trong cõi người ta -

Chồng hay so sánh... vợ ta, vợ người.

image

Vợ ta... Vợ ta nhiều nói, ít... cười .
Vợ người ít nói, cười tươi suốt ngày. 
Vợ ta giống chiếc... cối xay . 
Vợ người yểu điệu, mảnh mai, dịu dàng ! 
Vợ ta nhìn muốn... xâm xoàng .
Vợ người nhìn muốn... mò sang “bợ” về! 
Vợ ta nhìn hết muốn... mê . 
Vợ người nhìn thấy đã phê, đã... thèm! 
Vợ ta nhãn mác lem nhem. 
Vợ người mẫu mã giống em... chân dài ! 
Vợ ta nhan sắc tàn phai.

image

Vợ người...
Vợ người nhan sắc mỗi ngày thêm... tươi! 
Nói ra sợ mấy anh cười ! 
Vợ ta xấu nết, xấu người (là) do... ta ! 
Làm chồng hiểu biết sâu xa. 
Vợ ta sẽ đẹp bằng... ba vợ người !


“Gái lớn ai không phải lấy chồng…”

image


Cách ngăn trong mùa chiến

Tôi không quen nghe những bài tình ca buồn thảm, nhất là những khúc ca về sự chia cách của những kẻ yêu nhau trong thời chinh chiến.  Tôi phẫn nộ với cái tái tê của người chinh phụ, bất đồng với cái vất vưởng của tình yêu trên cánh đồng chiến tranh vô tận.  Tôi căm ghét sự cách ngăn giữa tình nhân vì một lý do ngoại cảnh.

Rồi có lúc, tôi nhận ra, mình rất sợ nghe những bài tình ca u uất ấy, vì tôi dễ mủi lòng. Tôi dễ dàng khóc khi nghe bài “Những Đồi Hoa Sim” hay trường khúc “Một Đời Áo Mẹ Áo Em.”  Nỗi lòng người đi ra chiến trận, biết là nửa đầy hay nửa vơi của một vầng trăng khuyết?  Kẻ ở lại còn bao nỗi đoạn trường.

Tôi tự hỏi, làm cách nào để Mẹ tôi vượt qua những tháng ngày chông chênh, khi Ba tôi phục vụ trong quân ngũ.  Làm sao để Mẹ là một người yêu khi ý trung nhân bôn ba ngoài chiến ải, làm sao để Mẹ tập trung hoàn tất chương trình Sư Phạm và tốt nghiệp làm cô giáo, làm sao để Mẹ tìm đủ can đảm để đợi chờ khi Ba tôi bị đưa vào trại cải tạo?  Làm sao để Mẹ không hóa dại hóa điên?

Ngăn cách trong thời bán bình

Tại sao tôi gọi là thời bán bình? Tuy binh đao không diễn ra tại Hoa Kỳ, nhưng quê hương thứ hai của tôi vẫn đang tham chiến ở những nơi khác trên thế giới. Tôi có nhiều chị em bạn có người yêu hay phu nhân đi phục vụ tại các chiến trường xa, những chinh phụ của thế kỷ hai mươi mốt.

image

Ghét của nào, trời trao của ấy.  Tôi cứ nghĩ mình thoát cái nghiệp này, nhưng không hẳn vậy.  Tôi không nghe nhạc tình buồn, tránh những bài hát chia cách, thì tôi lại phải xa chồng hai năm trước và sau ngày cưới vì công việc của anh ở xa.  Tôi thấy giận mình thật nhiều.  Thời chiến chia cách đã đành.  Trong thời bình mà phải xa nhau, thì nỗi đau càng day dứt.

Tôi nguyền rủa Manhattan mỗi ngày, đã giữ chồng tôi.  Rồi đến lúc tôi chán, thấy việc nguyền rủa ấy chẳng có ý nghĩa gì, tôi buông lơi.  Tôi để mặc cho tháng ngày trôi đi trong mong đợi.  Tôi gia hạn cho anh phải về – tháng Giêng.  Rồi tái gia hạn – tháng Tư.  Rồi triển hạn – tháng Tám.  Và lại ra tối hậu thư – tháng Chạp.  Nhưng tháng ngày trôi đi, những hạn kỳ của tôi cứ bị “cháy giáo án.”  Kinh tế trì trệ đã khiến anh không tìm được việc ở Quận Cam. Rồi một ngày, tôi nói hết sức thật lòng, rằng anh hãy đi cưới vợ ở bên ấy, vì tôi đã hết sức để chịu đựng.  Anh khóc.  Anh thấu nỗi lòng tôi.

Cho đến một ngày, anh dứt khoát để phố về hợp châu.  Anh từ chức, trả nhà, dọn về bên tôi.  Tôi qua giúp anh dọn nhà.  Bạn bè trêu, nói là tôi đi rước chồng về. Tôi phải làm quen lại với cái cảm giác có chồng bên cạnh, phải học nếm cái hạnh phúc đoàn viên, phải trở lại cái đời sống hôn nhân bình thường. Tôi phục hồi nhân bản của cuộc sống hằng ngày. Tôi đã tái sinh.

Một người quen bảo với tôi, “Cháu đừng lo!  Không ai chết đâu mà sợ! Cứ nói chồng cháu về!  Nếu cần qua ở với Cô. Chúng ta cũng cần hơi ấm của nhau! Mình chia nhau tí rau tí muối cũng vui rồi!”  Tôi vẫn đùa, nói rằng thà chúng tôi cùng đi ăn mày trên hè phố, còn hơn là được sống trong lầu son gác tía mà phải xa nhau.

Mẹ thấu lòng con

image

- Bữa nay ăn cơm với gì?

- Con ăn không vô. Dọn ra rồi lại cất đi.

- Hồi đó Mẹ cũng vậy. Ba đi cải tạo, Mẹ có ăn uống gì nổi đâu.

Mẹ không nói ra, nhưng Mẹ hiểu nỗi niềm của tôi.  Mẹ thường hỏi thăm xem chồng tôi đã xin việc ra sao, và cầu nguyện cho ngày chúng tôi được đoàn viên.  Mẹ chỉ mong chúng tôi được bên nhau.  Tôi chợt xót xa, nghĩ đến những tháng ngày đìu hiu mà Mẹ đã khắc khoải chờ mong chồng, một nách năm con dại.  Ai đã san sẻ với Mẹ những cô đơn sầu tủi?  Ai đã trấn an Mẹ rằng, chồng của Mẹ vẫn còn sống, và sẽ có một ngày, Mẹ sẽ được đoàn tụ với chồng?  Ai chứng kiến những giọt châu sa mà Mẹ ngày ngày đong đầy những bát cơm Mẹ ăn hoài không hết?  Ai nói với Mẹ, như Mẹ nói với con hôm nay, rằng cơm lạnh canh thừa không chừa người chinh phụ?

Mẹ thấu hiểu nỗi ngoay ngoắc của tôi, Mẹ bảo tôi thường về thăm nhà cho bớt quạnh quẽ.  Tôi chợt nhận ra, sự khắc khoải mong chồng của tôi đã kết liền cuộc đời tôi với Mẹ: Mẹ ngày xưa xa chồng vì chinh chiến, tôi ngày nay xa chồng vì công việc.  Trở thành một người vợ, tôi gần với Mẹ hơn trong tâm tình của những người phụ nữ cùng trăn trở.  Cái trăn trở của Mẹ đã qua – đã hơn ba thập niên.  Nhưng cái tâm tình và những cái xao xuyến của thời ấy vẫn còn râm ran trong Mẹ.  Nên Mẹ hiểu nhiều khi con gái của Mẹ phải cảnh chồng một nơi, vợ một nẻo.  Mẹ biết tôi đã nhiều bữa cơm nuốt không trôi, nên mỗi lần tôi về thăm nhà, Mẹ đều nấu những món tôi thích và lần nào, Mẹ và cô em út cũng chuẩn bị hành lý cho tôi thật nhiều: cá khô, đồ xào, trái cây, rau cải.  Tôi chọc cô em:

image

- Lúc này em giống Mẹ rồi!  Nhét giỏi quá!

Em tôi không trả lời, chỉ dứt khoát không cho tôi để lại món nào.  Tôi cười, nói mỗi lần về thăm nhà, là tôi tự thăm nuôi mình, vì lần nào trở lại ký túc xá, hành lý của tôi cũng đong đầy những món ăn tinh hảo mà Mẹ và em tôi đã chăm chút gói cho.  Hôm nào chị tôi rảnh, cũng nấu canh chua và kho thịt, ép tôi đem theo.  Cứ đà này, tôi sẽ hư mất! Ăn ngon quen miệng, mai mốt lỡ… quên cách nấu ăn thì sao?  Chồng tôi về, sẽ dắt tôi về nhà Mẹ, tự thăm nuôi tiếp!

Còn thương rau đắng mọc sau hè

Mẹ trồng rau đắng trong cái hồ nhỏ. Rau đắng phải có nước nhiều. Ở quê tôi, chỉ những ai nghèo lắm mới ra đồng hái rau đắng về luộc chấm nước mắm. Những cánh đồng phèn chua đất mặn, loáng thoáng những vạt rau đắng xanh non. Ngày đó, người dân quê tôi nghèo khó quá, có nhiều người chỉ mong đủ gạo nấu cơm ngày hai bữa để đi làm ruộng.  Rau đắng chỉ có thể luộc, vì làm gì có dầu ăn và có tỏi để xào?  Mẹ trồng rau đắng, như để tưởng nhớ những hương vị quê hương mà ngày xưa, tuy chúng tôi không đến nỗi phải cam chịu, nhưng cũng là một ký ức khó quên. Tôi hay cười khi nghĩ về sự đổi đời của những gì thuộc về quê hương trong hoàn cảnh sống xa nhà. Rau đắng – có mấy ai nghĩ nó sẽ đắc như vàng hay quý như đinh hương ở xứ người?  Ở Việt Nam, rau đắng mọc đầy đồng.  Ở Hoa Kỳ, người ta phải đi mua từng lọn nhỏ.

image

Còn thương lắm rau đắng mọc sau hè.  Chái bếp ngày nào của quá khứ đã được Mẹ đưa vào quỹ đạo của những bếp ga thời nay, cho con một cõi tâm thức và yêu thương. Để rau đắng mọc đầy trên thềm ký ức, đưa gió đông về sưởi ấm mái hiên của những đêm con phải xa chồng. Cách ngăn nào cũng có Mẹ sẻ chia. Ấm lạnh nào cũng được Mẹ vun vén.  “Gái lớn ai không phải lấy chồng…” nhưng không có người vợ trẻ nào trồng cấy mảnh ruộng mới của mình mà không cần đến Mẹ. Trong nhiều cách, Mẹ vẫn dzần công cho con trong vụ mùa mới, để con vào đời và thực sự lớn khôn.

Nàng Bân đan áo cho chồng.  Mẹ dệt hạnh phúc đời hôn nhân của con.



Trangđài Glassey
image



image




image





Mì Quảng ở Hội An Bistro – San Jose


image

Nhân nói đến chuyện “bún mắng cháo chửi” ở Hà Nội, lại nhớ đến chuyện ăn uống ở Mỹ trong chuyến đi chơi với Hoàng Ngọc-Tuấn và Võ Quốc Linh vừa rồi. Suốt chuyến đi hơn hai tuần, chúng tôi được ăn nhiều món ngon. Ở nhà cũng như ở tiệm. Bạn bè, khi đãi khách đến từ phương xa, thường có hai tâm lý: một, vì tình thân, đãi những món đặc biệt; và hai, vì tự ái địa phương, thích giới thiệu những tiệm ăn nổi tiếng nhất trong vùng mình ở. Vì vậy, chúng tôi thường xuyên được thưởng thức những món ăn thật khoái khẩu. Tuy nhiên, về lại Úc, nhớ lại, món ăn để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất vẫn là món mì Quảng ở tiệm Hội An Bistro ở San Jose.

image
Kỷ niệm Mì quảng tại Hội An Bistro: (từ trái) Hoàng Ngọc Tuấn, Võ Quốc Linh, Tâm Nguyên Vũ Thế Ngọc, Rose Nguyễn, Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Hưng Quốc, Vương Ngọc Minh

Không thể chối cãi, ấn tượng ấy là một sự thiên vị.

Thật ra, có đến hai sự thiên vị: thiên vị đối với món ăn và thiên vị đối với chủ tiệm.

Với món ăn, sự thiên vị đã quá hiển nhiên. Tôi sinh ở Quảng Nam, được ăn mì Quảng từ nhỏ, rất lâu trước khi cầm đũa gắp những sợi phở hay bún bò Huế, mì và hủ tiếu. Tôi ăn mì Quảng chủ yếu do mẹ hoặc bà con tôi nấu trước khi ăn ở một tiệm nào đó tại Quảng Nam - Đà Nẵng và những nơi khác. Vì vậy, mì Quảng lắng thật sâu vào ký ức của tôi. Nó không còn là món ăn nữa. Nó là kỷ niệm. Nhìn những sợi mì vàng óng trong tô, tôi không những thấy thực phẩm mà còn thấy cả hình ảnh của mẹ tôi, của anh em tôi, của tuổi thơ tôi. Chính vì vậy, mặc dù tôi vẫn thích và thường ăn phở và bún bò Huế, món ăn có sức lôi cuốn tôi một cách mãnh liệt nhất vẫn là mì Quảng. Đi lang thang trên các khu chợ người Việt, mỗi lần thấy tiệm mì Quảng, ít khi tôi cầm lòng được. Phải vào ngay. Như có tiếng gọi nào từ quá khứ xa xôi mời mọc. Nhưng thành thực mà nói: thường, tôi khá thất vọng. Rất ít khi nào tôi bước vào đó lần thứ hai. Lý do chính: dở. Có khi không những dở mà còn không phải là mì Quảng như cái tôi biết và chờ đợi.


image

Nhớ, có lần, ở Melbourne, nơi tôi sống, thấy một tiệm ăn trương bảng lớn “Mì Quảng”, tôi vào ngay. Đến lúc tô mì Quảng được bưng ra, tôi ngơ ngác. Không có vẻ gì là mì Quảng cả. Sợi mì trắng nuột. Bên cạnh những con tôm lột vỏ là những miếng thịt bò được thái mỏng. Nửa giống như hủ tiếu, nửa giống như phở. Khác, một chút xíu: một ít hột đậu phông rang giã nhỏ và một mảnh bánh tráng nướng. Hết. Tôi nếm thử. Chắc chắn không phải là mì Quảng. Cố lắm, tôi cũng chỉ ăn được một chút. Rồi bỏ. Khi tính tiền, người chủ tiệm thấy vậy, bèn hỏi: “Anh thấy mì Quảng ở đây thế nào? Tệ lắm hả?”. Tôi, một mặt, không muốn phũ phàng, nhưng mặt khác, lại không muốn nói dối, nên lừng khừng: “Ăn, cũng thấy ngon, nhưng hình như… không phải là mì Quảng.” Người chủ thật thà: “Vậy mì Quảng nấu sao hả anh?” Tôi ngạc nhiên, chưa biết trả lời thế nào, ông ấy nói tiếp: “Thực tình bọn em thấy khách hay hỏi nên nấu đại chứ không ai biết mì Quảng ra sao cả. Hỏi, mỗi người chỉ một cách khác nhau.”

image

Thực tình, tôi cũng không biết nấu mì Quảng ra sao cả. Tôi hoàn toàn dốt về chuyện nấu nướng. Chưa bao giờ tôi tự nấu một món ăn bình thường, kể cả kho thịt hay kho cá, đừng nói gì đến chuyện nấu một món phức tạp như phở hay mì Quảng. Hơn nữa, mì Quảng cũng khác hẳn các món nước khác ở Việt Nam. Khác, chủ yếu ở điểm này: mì Quảng dù có truyền thống khá lâu vẫn chưa được định hình một cách rõ rệt. Phở, hủ tiếu hay bún bò Huế đã được công thức hóa: mỗi món có loại thịt riêng, gia vị riêng, loại rau riêng. Chỉ cần lạc điệu một chút, người ta thấy ngay. Mì Quảng thì khác. Nó có thể dung hợp mọi thứ. Nó có thể được nấu với thịt heo, tôm, lươn hay cá lóc. Tôi còn nghe nói có người nấu mì Quảng với cả thịt vịt hoặc thịt chó nữa. Về nước lèo cũng vậy. Cũng không nhất định. Có người chan nước ngập cả tô. Lõng bõng như tô phở. Có người, đông hơn, nấu nước lèo thật sánh, rồi rưới một ít vào tô, vừa đủ để ướt các sợi mì. Đại khái giống như mì hay hủ tiếu khô.

image

Chưa được công thức hóa, mì Quảng có ba đặc điểm nổi bật: Một, rất đa dạng; hai, có tính chất thủ công, hiểu theo nghĩa là chưa được công nghệ hóa: nó thay đổi theo từng gia đình, và trong từng gia đình, theo đổi theo từng điều kiện kinh tế; và ba, thường trấn thủ trong gia đình. Để ăn một tô phở hay hủ tiếu ngon, người ta phải ra tiệm. Với bún bò Huế, cơ hội được ăn ngon ở nhà và ở tiệm tạm cho là ngang ngửa với nhau. Nhưng với mì Quảng, thường ở nhà ngon hơn hẳn ở tiệm. Chưa bao giờ tôi được ăn một tô mì Quảng nào ở tiệm ngon hơn những tô mì Quảng tôi được ăn trong gia đình. Của vợ con. Của anh em. Của bạn bè. Của người quen. Đây đó.

Chưa bao giờ.

Trừ ở tiệm Hội An Bistro ở San Jose.

Đến đây cần nói một chút về sự thiên vị thứ hai kể trên: thiên vị đối với chủ tiệm.

Chủ tiệm Hội An Bistro là Nguyễn Tâm (còn gọi là Tâm Nguyên), một nhân vật nổi tiếng trong cộng đồng. Tâm không những là một luật sư thành đạt mà còn là một nghệ sĩ tài hoa trên nhiều mặt: âm nhạc, nhiếp ảnh và… nấu ăn. Lần nào chúng tôi đến San Jose cũng được Tâm đãi bằng các món ăn anh tự nấu, nhiều nhất là mì Quảng. Chưa bao giờ tôi thấy một người đàn ông nào nấu ăn một cách say sưa như Tâm. Anh nấu ăn như đang làm nghệ thuật. Đó không phải là một công việc. Mà là một cảm hứng. Tôi từng chứng kiến cảnh Tâm nấu nướng nhiều lần, nhưng nhớ nhất là vào tháng 7 năm ngoái, lúc tôi, Hoàng Ngọc-Tuấn và một số bạn bè văn nghệ khác đang ngồi uống bia ngoài vườn sau của Triều, em trai tôi, thì Tâm lui cui nấu mì Quảng. Đứng trong bếp, buồn; anh mang cái bếp gas ra vườn, gần chỗ chúng tôi, để có thể vừa nấu vừa chuyện trò. Lúc ấy anh mới ở tòa án về, còn nguyên bộ đồ vét và cà vạt. Chiều, trời lành lạnh, anh cởi cà vạt nhưng vẫn mặc áo vét. Thái thịt. Lột tôm. Lặt rau. Xào xào nếm nếm. Tay anh lúc nào cũng thoăn thoắt. Rất điệu nghệ. Mấy tiếng đồng hồ sau, chúng tôi mỗi người một tô mì Quảng vàng ruộm và thơm ngát. Ăn ngay ngoài vườn. Ngay bên cạnh nồi nước lèo còn nghi ngút khói.

image


Lần này, lúc chúng tôi đến San Jose, Tâm đã có tiệm Hội An Bistro nên không nấu ở nhà nữa. Anh mời chúng tôi đến tiệm. Chín giờ rưỡi sáng, Tâm phải ra tòa án; xong, anh vội vàng về tiệm, lúc chúng tôi đã đến và uống cà phê chờ. Anh tháo cà vạt và vắt chiếc áo vét trên ghế rồi chạy ngay xuống bếp, bảo người đầu bếp chính đứng qua một bên, tự nấu món ăn mà anh tâm đắc để đãi chúng tôi. Rất nhanh. Chỉ hơn nửa tiếng đồng hồ sau, mỗi người chúng tôi đều có một tô mì Quảng nghi ngút khói trước mặt. Vẫn màu vàng óng. Vẫn những sợi bắp chuối nõn thái mỏng. Và vẫn cực kỳ ngon. Ngon đến độ một người bạn tôi đề nghị thêm một tô thứ hai. Anh nói: Chưa bao giờ ăn sáng mà ăn đến hai tô. Nhưng ăn xong tô đầu, cứ thấy thòm thèm. Lại sợ về lại Úc, không có dịp ăn một tô mì Quảng ngon đến vậy.

image

Trong lúc chúng tôi ăn, Tâm vẫn chạy lăng xăng lấy cho người này một ít ớt, người nọ một ly nước. Anh làm việc như một người bồi bàn đầy tận tụy. Miệng lúc nào cũng cười tươi. Bạn bè anh ai cũng biết anh mở tiệm ăn không phải vì lý do kinh tế. Nghề luật sư đủ để gia đình anh sống một cách sung túc, hơn nữa, trưởng giả. Anh mở tiệm chỉ để có cơ hội đàn đúm với bạn bè.

Có thể thêm lý do này nữa: để có dịp làm nghệ thuật trên bếp. Và với lửa. Nhất là với món mì Quảng anh học được từ người mẹ mới qua đời cách đây mấy năm.


Nguyễn Hưng Quốc

Friday, July 27, 2012

Chợ Walmart Neighborhood Market mở đầu tiên của Cali khi nước Mỹ trở lại với mô hình chợ đầu phố kiểu Việt Nam

image


Huntington Beach, Calif. Nói đến chợ Việt Nam thì người Việt mình mường tượng ra một hình ảnh ngôi chợ gần nhà, nhỏ nhắn, bán hàng tươi sống. Nói đến chợ Mỹ thì ta nghĩ ngay đến mô hình những siêu thị khổng lồ kiểu Costco, Home Depot, với kích thước khổng lồ, hàng hóa chất như núi. Ấy vậy mà tập đoàn bán lẻ Walmart sẽ cho khai trương hôm Thứ Sáu 27 Tháng 7-2012 ngôi chợ Walmart Neihborhood Market tại 21132 Beach Blvd. Hungtington Beach (gần ra đến biển), với một ý tưởng rất gần với những ngôi chợ đầu phố của  người Việt Nam ngày xưa.

Đây là chợ Walmart Neighborhood đầu tiên của California. So với những siêu thị Walmart truyền thống, Walmart Neighborhood có những thay đổi đáng kể. Đầu tiên là diện tích chợ thu nhỏ lại, tạo cảm giác thân thiện, gần gũi.

Đây là chợ của người địa phương, cho nên Walmart Neighborhood dự định sẽ phục vụ cho cư dân trong phạm vi khoảng 2 dặm đường kính. Số lượng hàng hóa ở đây vẫn đa dạng, nhưng chọn lọc hơn, bầy bán với size nhỏ hơn, trưng bày gọn gàng hơn. Khách hàng sẽ tìm thấy ở đây các loại trái cây, rau quả, thịt thà tươi sống, một đặc điểm ít thấy ở các chợ bán sỉ ở Mỹ, vốn chủ yếu bán hàng đông lạnh.

image
Quầy trái cây tươi tại Walmart Neighborhood Huntington Beach.
Rất nhiều trái cây, rau tươi do chính các nông trại của California trồng được bày bán tại đây. Hệ thống phân phối chuyên nghiệp của Walmart sẽ bảo đảm cho các bà nội trợ hằng ngày có được các loại thịt bò, heo, gà còn tươi sống, bán ở những size vừa đủ cho một gia đình dùng. Đây là tin vui đối với những ai vốn ngán ngẩm khi phải mua thực phẩm ở Costco chỉ bán với size lớn, nhiều khi phải bỏ tủ lạnh cả mấy tuần ăn mới hết. Thực phẩm tươi nhưng với giá cả lại phải chăng, đó là phương châm quan trọng nhất của Walmart Neighborhood. Công ty có chính sách “price matching waranty”, bảo đảm khách hàng tìm đâu được thực phẩm cùng loại với giá rẻ hơn, công ty sẽ bán theo giá rẻ nhất này.

image


Walmart Neighborhood theo đuổi chính sách thân thiện với môi trường, có hệ thống tái sinh bao bì nhựa ngay tại chỗ, giảm nhẹ gánh nặng cho những công ty xử lý rác thải để bảo vệ môi trường. Walmart Neighborhood còn có tiệm thuốc tây, với những toa thuốc trị bệnh phổ thông với giá $4 cho mọi bệnh nhân, có hay không có bảo hiểm y tế.

image
Quầy thịt tươi sống tại Walmart Neighborhood Huntington Beach.
Walmart Neighborhood Huntington Beach đã tạo ra 65 việc làm cho cư dân tại Nam Cali. Sắp tới đây, công ty sẽ tiếp tục mở những chợ Walmart Neighborhood mới tại các khu vực Anaheim, Garden Grove… Bà con người Việt mình ở khu vực Little Saigon đang cần việc nhớ theo dõi việc tuyển dụng của công ty trong tương lai.

image


Đúng là quả đất tròn. Người Mỹ đã nghĩ ra biết bao nhiêu cải tiến trong hệ thống bán lẻ, để rồi lại tự chuyển mình từ những siêu thị khổng lồ trở lại thành những ngôi chợ đầu phố xinh xắn, cũng chỉ vì ý tưởng làm sao phục vụ khách hàng tốt hơn. Người Việt mình ở Little Saigon sẽ bắt gặp ở Walmart Neighborhood những nét quen thuộc của ngôi chợ xóm giềng, hay cửa hàng tạp hóa nhỏ tại quê nhà ngày nào, gần gũi, thân thiện, với những loại thực phẩm, hàng hóa thiết yếu cho cuộc sống hàng ngày của mình.


VB

Bún mắng cháo chửi ở Hà Nội

image


Gần đây, trên tờ Giáo Dục Việt Nam có một loạt bài khá thú vị về phong cách phục vụ tại một số 
tiệm ăn ở Hà Nội. Về đề tài này, trước, tôi đã từng viết, nhưng nay, đọc các bài thảo luận trên Giáo Dục, tôi không thể kiềm chế được sự “ngứa ngáy”, nên xin bàn tiếp.

Loạt bài do nhiều người viết. Giới nghiên cứu có; giới phóng viên có; giới độc giả cũng có. Nhiều người kể lại những kinh nghiệm cụ thể mà mình từng mắt thấy tai nghe hoặc có khi chính mình là nạn nhân của thứ văn hóa “bún mắng cháo chửi” ấy.

Một người kể: Đang đứng tần ngần chọn món để gọi, ông bị chủ quán mắng ngay: “Đứng chầu mồm à? Ăn không thì bảo?”. Ông vội vàng trả lời: “Chị cho xin một tô.” và lại bị mắng tiếp: “Tô, tô cái gì? Ra đây phải gọi là bát nhá!” Lại chịu đựng. Lại đứng tần ngần. Và lại nghe chủ quán mắng tiếp: “Vậy ông ăn bằng miệng hay ăn bằng tai? Ăn bằng miệng thì ngồi xuống. Bà kia! Xích cái đít mỡ ra một chút cho người ta ngồi.”

image


Một người khác, gốc Hà Nội, so sánh phong cách phục vụ trong các tiệm ăn ở Hà Nội và ở Sài Gòn:

“Trong khá nhiều lần đi công tác vào miền Nam, khi vào sử dụng dịch vụ ở các nhà hàng tại Sài Gòn, tôi nhận thấy rằng, thái độ phục vụ, dù chỉ là những anh bồi bàn thôi thì cũng đã rất dễ chịu, lịch sự, thân thiện, tôn trọng khách hàng, khác xa so với ở ngoài Hà Nội.

Ở những nhà hàng, cửa hàng ở Sài Gòn mà tôi đã từng đặt chân đến, dù là đông khách hay vắng khách thì những nhân viên ở đây vẫn tạo cho tôi cảm giác được chào đón hết sức nồng nhiệt.

Những nụ cười cùng những lời đề nghị hết sức lịch thiệp là điều mà chúng tôi luôn thấy ở các nhân viên phục vụ dù rằng phải tiếp đón một lượng khách lớn, rất mệt mỏi. Họ cũng sẵn sàng giúp đỡ, chỉ dẫn tận tình cũng như giải thích nhẹ nhàng, cặn kẽ với những gì chúng tôi còn thắc mắc, chưa hiểu.

Khi chúng tôi có những lời góp ý họ luôn dành nụ cười và lời cảm ơn chân thành. Tôi cũng nhận thấy, trong cung cách phục vụ ở đây, những nhân viên, quản lý nếu sai thì sẽ sẵn sàng xin lỗi khách hàng và nếu khách hàng có sai thì họ cũng nhẹ nhàng chứ không bao giờ có những lời lẽ theo kiểu "dạy dỗ" như ở không ít nhà hàng tại Hà Nội...

image
Một nhà hàng tại Hà Nội

Tôi là một người cũng khá khó tính trong việc "chấm điểm" cung cách phục vụ của các nhân viên dành cho mình nhưng quả thật, tôi cũng đã phải móc hầu bao để thưởng thêm cho một anh chỉ là bồi bàn tại một nhà hàng ở Sài Gòn vì thái độ phục vụ quá chu đáo, nhiệt tình, tôn trọng khách... Điều đó, cũng xin thưa rằng, ở Hà Nội tôi chưa bao giờ làm cả, vì thấy nó không xứng đáng...”

Số người đồng ý với nhận xét ở trên nhiều đến độ báo Giáo Dục viết hẳn một bài tổng kết với nhan đề “Ai cũng công nhận rằng văn hóa phục vụ ở Hà Nội kém xa Sài Gòn”.

image 

Đào sâu vào những sự so sánh như thế chắc chắn là một điều thú vị và bổ ích. Nhưng xin hẹn một dịp khác. Ở đây, tôi chỉ xin tập trung vào hai vấn đề:
 
Thứ nhất, tại sao người Hà Nội lại có thứ văn hóa phục vụ thô lỗ, hỗn láo và tục tằn đến độ quái gở như thế?
 
Thứ hai, tại sao người dân Hà Nội lại có thể chịu đựng được thứ văn hóa phục vụ khủng khiếp đến như thế?

 
Trong hai câu hỏi ở trên, theo tôi, câu hỏi thứ hai quan trọng và cần thiết hơn câu hỏi thứ nhất.
 
Bình thường, người bán hàng lịch sự và dễ thương với khách không hẳn là vì tâm tính của họ vốn vậy. Lý do chủ yếu là vì lợi. Ở Tây phương, người ta thường cho rằng để bán hàng chạy, cần có ba điều kiện chính: một, địa điểm; hai, chất lượng; và ba, phong cách phục vụ. Điều kiện thứ ba đặc biệt quan trọng trong lãnh vực dịch vụ, nhất là dịch vụ ăn uống. Chính vì vậy, khi tuyển nhân viên phục vụ trong các tiệm ăn và các quán cà phê, người ta thường chú ý nhiều đến ngoại hình; trong ngoại hình, yếu tố được chú ý nhất là gương mặt; trên gương mặt, yếu tố được chú ý nhất là nụ cười. Những nụ cười thân thiện của chủ quán và của những nhân viên phục vụ được xem là một trong những nguyên tắc chiến lược tạo nên sự thành công của việc buôn bán: Chúng đẻ ra tiền. Biết thế, ngay cả những người bẳn tính nhất, khi làm việc, cũng trở thành hòa nhã với khách.

image

Ở Hà Nội, ngược lại, người ta không tôn trọng khách, không cần khách, sẵn sàng chửi thẳng vào mặt khách. Tại sao? Một số người trả lời: Vì đó là những người nhập cư, đến từ các tỉnh lẻ, vốn ít học và thiếu văn hóa. Chắc chắn đó không phải là câu trả lời chính xác. Ở đâu lại không có người nhập cư? Tỉ lệ dân nhập cư ở Sài Gòn chắc chắn phải cao hơn hẳn Hà Nội. Nhưng tại sao Sài Gòn có thể “văn hóa” họ được mà Hà Nội lại không? Vả lại, nói thế cũng đồng nghĩa với việc đánh giá thấp người dân ở nông thôn, những người tuy không được xem là lịch sự nhưng lại nổi tiếng là thân thiện và dễ mến.
 
Câu trả lời, tôi nghĩ, một phần nằm trong văn hóa hợp tác xã từng ngự trị ở miền Bắc, đặc biệt tại Hà Nội, trong suốt mấy chục năm, từ năm 1954 đến ít nhất cuối thập niên 1990. Ở các hợp tác xã ấy hầu như lúc nào cũng có bảng hiệu “Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”, nhưng trên thực tế, đó là những trung tâm quyền lực, ở đó, nhân viên tha hồ tác oai tác quái và khách hàng chỉ biết năn nỉ ỉ ôi để được mua từng chút, từng chút nhu yếu phẩm cho sự tồn tại của bản thân và gia đình. Chính các hợp tác xã ấy đã quan liêu hóa lãnh vực kinh doanh và dịch vụ khiến người bán hàng xem khách là những kẻ ăn xin chứ không phải là nguồn lợi của mình.

image

Nhưng vấn đề là: Tại sao khách lại chịu đựng những sự nhục mạ như vậy? Ngày xưa, thời bao cấp, sự chịu đựng như vậy là điều dễ hiểu. Không chịu đựng được thì đói. Nhưng còn bây giờ? Hàng quán ê hề, ở đâu cũng có, không vào tiệm này thì vào tiệm khác, vậy tại sao người ta vẫn cứ tiếp tục bước vào các tiệm “bún mắng cháo chửi” để chịu nhục? Thức ăn ở các tiệm ấy ngon ư? Nhưng, thứ nhất, liệu cái ngon ấy có đáng được trả giá bằng sự nhục nhã không? Thứ hai, tại sao dù nhục nhã như vậy, người ta vẫn không thấy nghẹn trong họng và vẫn thấy ngon?
 
Chủ quán và nhân viên phục vụ thô lỗ và thô bỉ có thể là do bản tính. Nhưng chấp nhận bước vào các tiệm có thứ văn hóa phục vụ thô lỗ và thô bỉ như vậy lại là sự chọn lựa của khách hàng. Đó không phải là sự chọn lựa giữa tiệm này và tiệm khác, giữa món ăn này và món ăn khác. Mà là sự chọn lựa giữa miếng ăn và lòng tự trọng.

image


Đến đây, chúng ta không thể không tự hỏi: chẳng lẽ lòng tự trọng của người Hà Nội -xin lỗi, của một số người Hà Nội - lại yếu đến vậy sao?
 
Chỉ một số thôi ư? Chắc hẳn đó phải là một số không nhỏ. Nếu không, các hàng quán “bún mắng cháo chửi” ấy đã phải đóng cửa rồi.
 
Đóng cửa từ lâu rồi.


Nguyễn Hưng Quốc

"Cháo Chửi" Hà Nội



image



Những dụng cụ nhiễm độc củaTrung Quốc trên bàn ăn.

image


Có không ít người Sài Gòn mỗi lần vào quán là cẩn thận với lấy khăn giấy hoặc khăn vải trên bàn ăn để lau đũa, lau muỗng.

Họ cứ lau đi lau lại cả chục lần với hy vọng là đôi đũa và cái muỗng được sạch hơn, rồi có người cũng dùng khăn giấy lau đi lau lại cái mặt bàn cũng với hy vọng được an toàn hơn.
Bây giờ chúng ta thử coi cái muỗng và đôi đũa của đa số các quán ăn được “xử lý” ra sao.

Bỏ qua chuyện nơi rửa chén của các quán nằm cạnh nhà vệ sinh hay miệng cống thoát nước đầy chuột và gián, chỉ cần để ý đến loại nước rửa chén được bán với giá khoảng 5,000 VNÐ/lít, hàng ngày người ta thấy người bỏ mối nước rửa chén giá rẻ chở những can 20 lít, 10 lít chạy vòng vèo khắp các quán ăn.

image
Một quán cơm tấm, món ăn phổ biến ở Sài Gòn.


Tất nhiên, cũng có người cảnh báo về thứ nước rửa chén có chung một chợ đầu mối hóa chất Kim Biên. Với công thức nước cộng với hóa chất, phẩm màu và hương liệu có xuất xứ Trung Quốc hô biến ra thứ nước được dùng làm sạch cái tô, đũa, muỗng.
Thứ nước tẩy rửa này còn độc hại hơn cả các chất dơ dính trên các dụng cụ ăn uống. Nhưng anh T, một người vừa là chủ vừa là người giao hàng nước rửa chén giá rẻ nói: “Hóa chất Trung Quốc rẻ thì dù có độc hại thì đã sao? Mấy ông một ngày giỏi lắm xài mấy cái tô mấy đôi đũa thì nhằm gì, tôi một ngày pha chế mấy trăm lít, hít đầy phổi còn chưa nói. Không xài thứ đồ này thì lấy gì xài, vẽ chuyện.”

image

Chuyện thứ hai đáng chú ý trên một bàn ăn là chuyện cây tăm xỉa răng. Một nhân viên ngành ngân hàng kể: “Nhóm bạn tụi em có thỏa thuận với nhau rằng: nếu ai phát hiện ở Sài Gòn-Chợ Lớn có quán nào lạ là kéo nhau đến ăn để gọi là tường tận món ngon thế gian. Trong nhóm có nhỏ bạn cứ vào quán là lấy giấy ra lau cái  tăm xỉa răng giống như một dạng bệnh, cả nhóm khuyên nó là nên đem theo tăm xỉa răng chớ đừng dùng tăm xỉa răng của quán. Nó nói: Chẳng qua là mình lau để chứng minh cho các bạn thấy không chỉ tăm ngâm hóa chất độc hại mà đến cái  tăm xỉa răng là thứ dơ nhất, mình cá là có khi cả năm chẳng quán hàng nào đem cái  đựng tăm đi rửa, mà nếu có rửa cũng xài hóa chất chết người Trung Quốc.”

image


Từ câu chuyện này, nhiều người bỗng nhớ đến câu chuyện về cây tăm ở Sài Gòn. Người có tuổi trung niên thì kể về loại tăm làm bằng gỗ thông, được đựng trong hộp và được một số xí nghiệp làm tăm xỉa răng khá nổi tiếng ở Sài Gòn trước đây sản xuất. Người già thì nhắc về một loại tăm xỉa răng được mỗi gia đình tự tay chẻ ra từ những miếng gỗ tre rồi đem luộc với nước muối pha loãng và đem phơi nắng.

image

Ngày nay không còn thấy các loại tăm đó nữa ở Sài Gòn dù thói quen xỉa răng bằng tăm sau khi ăn vẫn phổ biến. Ở các quán ăn Sài Gòn ngày nay, có trời mới biết các loại tăm được sản xuất với qui trình vệ sinh nào mà chỉ biết chắc chắn từng cây tăm được bỏ mối vào các tiệm quán đều được tẩm thuốc chống mốc, thuốc tẩy trắng và các hóa chất tạo mùi giá rẻ từ Trung quốc.

image


Một chuyện đáng trớ trêu nữa là cây tăm dùng trong gia đình được bày bán ở các siêu thị, cửa hàng thường khiến cho nhiều người tin rằng an toàn hơn tăm của hàng quán, nhưng thật ra không phải vậy.

Con số thống kê gần đây nhất cho biết chỉ trong 6 tháng đầu năm lượng tăm tre nhọn hai đầu từ Trung Quốc nhập khẩu về Sài Gòn đã hơn ba trăm tấn, và để đánh lừa người tiêu dùng đa số tăm xỉa răng này đều thay đổi nhãn mác từ made in China sang sản xuất tại Việt Nam.

image
Một góc quán ăn ở Sài Gòn.


Như vậy có thể thấy cả tăm tre dùng trong mỗi gia đình người Việt và tăm tre ở hàng quán đều chắc chắn ngâm tẩm chung những thứ hóa chất, ở mức sơ đẳng ai cũng biết độc hại trừ các cơ quan kiểm định của chế độ cầm quyền Hà Nội.

image


Ông giáo chức hưu trí nói: “Bỏ qua cái chuyện đại sự mất biển, mất cá, mất dầu vì Trung Quốc thì chỉ cái chuyện từ từ mất mạng vì ba cái thứ nước tẩy rửa này, nghĩ dân tình mình sao mà dễ chịu chết quá cỡ.”


Phùng Thức