Thursday, September 16, 2021

Thế giới thực _ Chỉ là một ảo ảnh

 BM

Nguyên tử: Nếu cơ thể chúng ta được đặt dưới một kính hiển vi cực mạnh, những điều chúng ta nhìn thấy có thể là một biển cát chuyển động không ngừng.


Mọi hành động và vật chất phát triển trong vũ trụ đều tuân theo những gì mà chúng ta vẫn cho là hiện thực. Có ý tưởng cho rằng vũ trụ của chúng ta trôi qua giống như giấc mơ của một người khổng lồ, hoặc như sản phẩm của một chương trình thực tế ảo vô cùng phức tạp, nghe giống như một kịch bản khoa học viễn tưởng tài tình hơn là cái thế giới thô sơ và không hoàn hảo mà chúng ta đang chuyển động trong nó mỗi ngày.


BM


Tuy nhiên, cái hiện thực mà chúng ta nhận thức được dường như trái ngược với logic khoa học, nếu chúng ta nhớ rằng vật chất hầu như không tồn tại. Các khối cấu tạo của vật chất hữu hình là các nguyên tử, chỉ đơn thuần là những hạt nhân nhỏ bị thất lạc ở giữa một khoảng không gian trống không rộng lớn, được bao quanh bởi các hạt gần như vô hình (electron) quay quanh chúng với tốc độ cực lớn. Nếu cơ thể chúng ta được đặt dưới một chiếc kính hiển vi cực mạnh, điều được nhìn thấy có thể là một biển cát chuyển động không ngừng.


BM


Theo nghiên cứu mới đây trong ngành vật lý lượng tử, tất cả vật chất mà chúng ta biết – nền tảng vững chắc cấu thành thế giới tưởng chừng như là hiện thực của chúng ta – có thể chỉ là những dao động lượng tử giữa vũ trụ trống không.

 

Một nhóm các nhà vật lý được dẫn đầu bởi Tiến sĩ Stephen Durr từ Viện khoa học John Von Neumann ở Đức đã xác nhận rằng tổng của ba hạt hạ nguyên tử tạo nên proton và neutron (gọi là quark) chỉ chiếm 1% tổng khối lượng của chúng.

 

Bằng chứng này cho thấy phần khối lượng còn lại của hạt nhân sẽ bao gồm gluon, các hạt phù du nhỏ với bong bóng ở phần trống rỗng chính giữa, có chức năng duy trì sự hợp nhất của bộ ba hạt quark bên trong proton và neutron. Thực tế này đưa đến giả thuyết rằng thực tại hữu hình của chúng ta có thể chỉ là những biến động của sự trống rỗng hoặc là hoàn toàn không có gì.

 

Một sự thật khác

 

BM

Những gì chúng ta nhìn thấy bằng mắt thường được thu nhỏ lại thành một phạm vi thuận tiện.

 

Sở hữu một đôi mắt chỉ có thể nhìn thấy các hạt cực nhỏ sẽ khiến chúng ta không thể di chuyển trong một thế giới có những vật thể quá lớn như những vật thể mà chúng ta tương tác thường bao gồm hàng tỷ tỷ hạt siêu nhỏ.

 

Theo nhà sinh vật học Richard Dawkins, đá rất cứng và nó không thể xuyên thủng qua tay chúng ta bởi vì hai thứ này không thể xuyên qua lẫn nhau. Việc có khái niệm về độ cứng và độ rắn, đối với chúng ta là rất hữu ích vì nó giúp chúng ta định hướng và vận hành thế giới của mình.

 

Định hướng và vận hành trong một thực tại ảo tưởng, chúng ta phải chấp nhận rằng, đâu đó trong vũ trụ có thể có một hiện thực khác. Đó có thể là một giấc mơ khổng lồ, một chiếc bong bóng kỳ quái, hoặc Chúa, nếu bạn có thể tìm thấy.


BM


Vì thực tế các hạt không thể nhỏ hơn khói và bóng hình, nó có thể là sự tồn tại thực sự của tất cả các vật thể trong vũ trụ có thể trú ngụ ở một hoặc nhiều không gian song song. Nhiều nhà khoa học suy đoán rằng, giống như một vật thể ba chiều có thể chiếu bóng của nó lên không gian hai chiều, một vũ trụ đa chiều (như trường hợp của Lý thuyết Chuỗi) có thể đổ bóng trong không gian ba chiều.

 

Nếu lý thuyết này đúng, thì mọi vật thể và sinh vật trong thế giới này không gì khác hơn là một đại diện nói chung của các vật thể và sinh vật ở một vũ trụ “chân thực” hơn. Trùng hợp với lý thuyết này, sự tồn tại của một tâm trí bên ngoài cơ thể ở một không gian khác có thể là lời giải thích lý tưởng cho việc tại sao chúng ta có trí nhớ, trong khi các nguyên tử trong bộ não chúng ta bị thay thế hàng trăm lần trong suốt cuộc đời chúng ta. Theo Steve Grand, tác giả cuốn sách “Creation: Life and How to Make It,” (Sự sáng tạo: Cuộc sống và cách tạo ra cuộc sống), không có một nguyên tử nào cấu thành nên thân thể hiện tại của chúng ta hiện diện trong cơ thể chúng ta trong những sự kiện thời thơ ấu mà ta còn nhớ được.


BM


Grand cho rằng vật chất chuyển động từ nơi này đến nơi khác và hợp nhất lại với nhau từng phút từng giây để bạn có thể là chính bạn. Do đó, bạn không phải là vật chất mà bạn được cấu thành. Điều này ngụ ý rằng cơ thể thực của chúng ta ở trong một không gian mà chúng ta không nhận biết được — trong khi cơ thể ảo, một vật chứa đơn thuần, sẽ là thứ mà chúng ta gọi là thực tại.

 

 

 

 

Leonardo Vintini  _  Nhã Liên


BM

Lợi ích của việc đọc sách cho trẻ chập chững biết đi và trẻ mẫu giáo
Giấc mơ hạc cầm
Đại tướng Mark A. Milley sau tố cáo động trời
Phụ nữ hấp dẫn đàn ông không phải vì nhan sắc
Với cử tri của Trump _ hỗn loạn ở Afghanistan là 'sự phản bội khác' của Biden
Quy tắc của người chăn bò
Huyết mạch của nền kinh tế vỉa hè
Hiện tượng dân nghèo Sài Gòn 'bị đói do phong tỏa' lên báo Anh
Những chiêu lừa tiền qua Facebook _ điện thoại _ online thời Covid
Nghiên cứu treo ngược tê giác được trao giải Ig Nobel 2021
Little Kabul _ Little Saigon và số phận người tị nạn
Sài Gòn _ Thẻ xanh, thẻ vàng, vùng xanh, vùng đỏ
Liên bang không hỗ trợ những người bị ảnh hưởng do chích ngừa COVID-19
Đừng để virus bên ngoài phá hủy hạnh phúc bên trong
Hoa Kỳ rút khỏi Afghanistan _ Góc nhìn của Trung tá gốc Việt từng đóng ở Kabul
Bí quyết chọn rượu nho hồng khô tốt nhất
An sinh xã hội là phương tiện tiết kiệm hưu trí tồi tệ
Ông già ngủ gật Joe Biden
Con đường của anh hùng qua các thời kỳ lịch sử
Tại sao rất nhiều người phương Tây ủng hộ các triết lý cộng sản?

Lợi ích của việc đọc sách cho trẻ chập chững biết đi và trẻ mẫu giáo

 BM

Nhiều năm trước, một cô bé tuổi vị thành niên bế cậu con 6 tháng tuổi đến gặp tôi bởi vì cậu bé quấy khóc nhiều khiến Người Mẹ lo lắng. Chúng tôi nói về các triệu chứng của cháu bé, cách chăm sóc và cho bé ăn, rồi tôi bắt đầu khám cho cháu. Khi tôi sờ bụng của cháu, tôi hỏi, “Bụng cháu có đau không?”

 

Người mẹ bật cười. “Trẻ sơ sinh không thể nói chuyện được!” cô ấy thốt lên.

 

“Đúng thế,” tôi nói. “Các bé không thể nói chuyện, nhưng có thể nghe, và học nói từ việc lắng nghe những gì người ta nói với các bé.”

 

Tôi quả quyết với Người Mẹ rằng cháu bé không bệnh và chúng tôi nói về cách xoa dịu cậu bé. Sau đó, chúng tôi nói chuyện một hồi lâu về tầm quan trọng của việc nói chuyện và đọc sách cho trẻ sơ sinh.

 

Hy vọng rằng, sau cuộc thảo luận của chúng tôi, cô ấy ra về với những ý tưởng mới về việc trò chuyện và đọc sách cho con mình nghe.

 

Trẻ bắt đầu học từ rất sớm, ngay cả trước khi các bé được sinh ra, và 90% sự phát triển não bộ của các bé xảy ra trước tuổi lên 3. Cá tính, phong cách học tập, và nhiều giá trị của trẻ được hình thành vào tuổi lên 6. Các bậc cha mẹ đóng vai trò chính trong việc hình thành tính cách của một đứa bé. Trẻ nhỏ không có người cha trong gia đình thường dễ nảy sinh hành vi sai lệch hơn và học hỏi chậm hơn những đứa trẻ trong một gia đình có cả cha lẫn mẹ.


BM


Không lâu sau khi gặp người phụ nữ trẻ và bé trai con cô ấy, tôi tình cờ đọc một bài báo giải thích rằng những trẻ em nào có người chăm sóc nói chuyện với chúng thì không những biết nói sớm hơn, mà còn là những học sinh giỏi hơn, và thành công hơn trong suốt cuộc đời của các em, so với những trẻ em ít giao tiếp bằng lời nói với người lớn. Bài viết này cũng nói rằng trẻ được đọc cho nghe từ thời kỳ sơ sinh học giỏi hơn trong trường so với trẻ hiếm khi nhìn thấy nội dung của một cuốn sách. Hơn nữa, đọc sách cho trẻ sơ sinh trước 9 tháng tuổi được khẳng định là sự khác biệt duy nhất giữa một nhóm học sinh tốt nghiệp trung học loại ưu và một nhóm không tốt nghiệp.

 

Tôi đã trích dẫn bài báo ấy trong hơn một nửa thế kỷ, và không còn bản sao nào nữa, tuy nhiên việc đọc cho trẻ ở bất kỳ độ tuổi nào đều hợp lý. Là một bác sĩ nhi khoa, tôi đã thấy luận điểm cũ kỹ ấy được minh chứng hết lần này đến lần khác.

 

Một tuyên bố chính sách năm 2014 của The American Academy of Pediatrics (AAP) Council (Hội đồng Nhi khoa Hàn lâm Hoa Kỳ) đã viết rằng, “Tất cả các gia đình cần lắng nghe thông điệp quan trọng này cho rằng việc đọc to cho con trẻ của họ là điều quan trọng, đặc biệt là trong một thời đại mà các nhu cầu giải trí rất cạnh tranh, chẳng hạn như thời gian [trẻ ngồi trước] màn hình (truyền hình, rạp chiếu phim, trò chơi video, và máy điện toán) có thể làm hạn chế các giao tiếp trong gia đình và các dịp để thể hiện khả năng giao tiếp ngôn ngữ trực tiếp ngay cả đối với các bé còn rất nhỏ.”

 

Họ cũng khuyên các bác sĩ nhi khoa nên hợp tác với những người bênh vực quyền lợi trẻ em khác để tác động đến các chính sách và thông điệp quốc gia hỗ trợ và thúc đẩy việc chia sẻ những trải nghiệm quan trọng này trong việc cùng đọc chung sớm [với trẻ].”


BM


Gần đây, tạp chí khoa học Nhi khoa của AAP xuất bản bốn bài viết nói về tầm quan trọng của việc đọc sách cho trẻ sơ sinh và trẻ trong độ tuổi mẫu giáo. Hai bài viết nói về các nghiên cứu liên quan đến trẻ em ở Thư viện Dolly Parton’s Imagination (Thư viện trí tưởng tượng của Dolly Parton) và trong chương trình Reach Out and Read (Giao tiếp và đọc sách). Những bài viết còn lại là các bài bình luận về các công trình nghiên cứu.

 

Một nghiên cứu kết luận rằng “một chương trình kết hợp hướng dẫn biết đọc biết viết tại các lần thăm khám chẩn đoán cho các em kết hợp bài trí nhiều sách hơn trong nhà có thể có tiềm lực cải thiện cho việc trẻ sẵn sàng bước vào môi trường mẫu giáo.”

 

Nghiên cứu còn lại trong ấn phẩm này cho thấy việc đọc sách cho trẻ sơ sinh và trẻ mẫu giáo cũng làm chậm hơn “cơn nghiện” của các bé với màn hình [truyền hình, rạp chiếu phim, trò chơi video, và máy điện toán]. Nghiên cứu tiếp tục cho biết “trẻ em tiếp xúc càng nhiều với màn hình khi 24 tháng tuổi liên quan tới việc sẽ đọc kém hơn khi trẻ được 36 tháng [và] 60 tháng tuổi.”


BM


Đọc sách là cần thiết cho trẻ sơ sinh và trẻ mẫu giáo bởi vì điều này giúp trẻ có được sự bình hòa và thư giãn, nó dễ dàng trở thành thông lệ trước khi đi ngủ và khiến việc đi ngủ trở thành một khoảnh khắc hạnh phúc, điều đó tác động lớn đến thành tích học tập sau này của trẻ nhỏ, và thúc đẩy sự gắn bó giữa cha mẹ và con trẻ trong những giai đoạn phát triển nhạy cảm, nhưng, trên hết là nó nuôi dưỡng tình yêu giữa người đọc và đứa trẻ.

 

Độc giả có thể biết rằng cha của nữ ca sĩ Dolly Parton mù chữ, và vì vậy, cô ấy muốn làm tất cả những gì cô ấy có thể để giúp trẻ em học đọc. Cô ấy bắt đầu bằng cách gửi một quyển sách cho mỗi em bé được sinh ra ở quận của cô, nằm ở phía Đông Tennessee, vào lúc chào đời và hàng tháng cho đến khi các em lên 5 tuổi. Không lâu sau đó, thống đốc tiểu bang Tennessee đã cho phép tất cả trẻ em ở Tennessee có thể tham gia chương trình tuyệt vời này.

 

Quả là một lời tri ân sâu sắc dành cho Dolly Parton! Cô ấy thường nói rằng cô ấy mang một trái tim bao la và hạnh phúc, và cô ấy chứng minh sự rộng lượng ấy bằng việc thành lập Imagination Library (Thư viện trí tưởng tượng) vào năm 1995. Thông qua đó, 160 triệu quyển sách được gửi cho 1.8 triệu trẻ em ở Hoa Kỳ, Vương Quốc Anh, Canada, Úc, và Cộng hòa Ireland.


BM


Một chương trình tương tự, Reach Out and Read (ROR – Giao tiếp và Đọc) đã được hai bác sĩ Robert Needleman và Barry Zuckerman khởi điểm cách đây 30 năm, họ quan sát nhiều bệnh nhân nhỏ tuổi đã bỏ lỡ những cơ hội phát triển trong những năm quan trọng đầu đời.

 

Ngày nay, 34,000 nhà lâm sàng nhi khoa tại 6,400 phòng khám trên toàn quốc phân phát những quyển sách trong những chuyến thăm khám trẻ của họ. Mỗi năm, họ tiếp xúc được 4.8 triệu trẻ em và gia đình, đồng thời phân phối hơn 7.4 triệu quyển sách thiếu nhi. 50% số sách này được gửi đến những gia đình có thu nhập thấp.

 

Nhờ Imagination Library (Thư viện trí tưởng tượng) của nữ ca sĩ Dolly và chương trình Reach Out and Read (ROR – Giao tiếp và Đọc), nên không có trẻ em nào bị mất đi lợi ích được đọc từ tuổi sơ sinh. Tôi hy vọng rằng cậu bé mà tôi đã gặp nhiều năm trước sẽ cho các cháu của cậu tham gia một trong những chương trình này và đọc cho các bé nghe mỗi ngày.

 

Để quyên góp hay ghi danh cho con hay cháu của quý vị tham dự một trong những tổ chức tuyệt vời này, vui lòng xem thông tin liên lạc dưới đây.

 

BM


Tiến sĩ Parnell Donahue là một bác sĩ nhi khoa, cựu chiến binh, tác giả của 4 quyển sách, blog ParentingWithDrPar.com, và là người dẫn chương trình “Parenting Matters” (Cẩm nang nuôi dạy con) của đài WBOU. Ông và vợ mình, bà Mary, có 4 người con trưởng thành, tất cả đều có học vị Tiến sĩ, hai trong số đó cũng là bác sĩ. Quý vị có thể liên lạc với ông qua trang Parenting-Matters.com.

 

 

 

Parnell Donahue  _  Ngọc Thuần


https://baomai.blogspot.com/

Giấc mơ hạc cầm
Đại tướng Mark A. Milley sau tố cáo động trời
Phụ nữ hấp dẫn đàn ông không phải vì nhan sắc
Với cử tri của Trump _ hỗn loạn ở Afghanistan là 'sự phản bội khác' của Biden
Quy tắc của người chăn bò
Huyết mạch của nền kinh tế vỉa hè
Hiện tượng dân nghèo Sài Gòn 'bị đói do phong tỏa' lên báo Anh
Những chiêu lừa tiền qua Facebook _ điện thoại _ online thời Covid
Nghiên cứu treo ngược tê giác được trao giải Ig Nobel 2021
Little Kabul _ Little Saigon và số phận người tị nạn
Sài Gòn _ Thẻ xanh, thẻ vàng, vùng xanh, vùng đỏ
Liên bang không hỗ trợ những người bị ảnh hưởng do chích ngừa COVID-19
Đừng để virus bên ngoài phá hủy hạnh phúc bên trong
Hoa Kỳ rút khỏi Afghanistan _ Góc nhìn của Trung tá gốc Việt từng đóng ở Kabul
Bí quyết chọn rượu nho hồng khô tốt nhất
An sinh xã hội là phương tiện tiết kiệm hưu trí tồi tệ
Ông già ngủ gật Joe Biden
Con đường của anh hùng qua các thời kỳ lịch sử
Tại sao rất nhiều người phương Tây ủng hộ các triết lý cộng sản?
Cuộc chiến giữa tự do và chủ nghĩa xã hội đã bắt đầu kể từ khi Hoa Kỳ lập quốc

Giấc mơ hạc cầm

 BM

Tôi không thể nhớ được lần đầu tiên biết đến cây đàn hạc (hay còn được gọi là đàn Harp) là khi nào, có lẽ khi tôi còn là một cậu bé.

 

Ngày ấy, hiếm có cơ hội khi được chiêm ngưỡng một dàn nhạc giao hưởng trên tivi, và ánh mắt tôi luôn hướng về chiếc hạc cầm, thứ nhạc cụ có dáng vẻ kỳ lạ nhất trên sân khấu, ít nhất là tới giây phút người nhạc trưởng với mái tóc dài bước lên bục. Khi được trao cơ hội cây đàn hạc sẽ tỏa sáng cả về hình ảnh và âm thanh, cây đàn hạc diễm lệ vang lên những âm thanh kỳ diệu như dòng thác chảy.


BM

Đàn hạc được bày bán tại sảnh triển lãm Hội nghị quốc gia lần thứ 41 của Hiệp hội hạc cầm Hoa Kỳ ở New Orleans.


Và rồi chúng ta có “Mickey and the Beanstalk”, một phân đoạn trong bộ phim “Fun and Fancy Free” của Disney vào năm 1947, với nhân vật Đàn Hạc Vàng (Golden Harp) — đó là một người phụ nữ xinh đẹp với giọng ca thánh thót có phần lưng bằng cách nào đó được gắn với hình tượng chiếc đàn hạc. Vai diễn được thể hiện tuyệt vời bởi một ngôi sao tuổi teen nổi tiếng vào thời ấy, nữ ca sĩ kiêm diễn viên Anita Gordon. Quả là một nhạc cụ làm mê hoặc lòng người! Nổi tiếng với cây đàn hạc, tất nhiên cũng phải nhắc tới Harpo Marx, một trong những thành viên nhóm hài kịch Marx Brothers, khả năng chơi hạc cầm của anh quả thật không phải một chuyện viễn tưởng! Anh ấy thực sự chơi đàn hạc rất giỏi.


Hạc cầm cổ điển

 

BM

Một chiếc đàn hạc cổ điển với bàn đạp (pedal) ở phần đáy.

 

Trong những năm gần đây, mặc dù không chơi đàn hạc, tôi đã được các thành viên trong Hiệp hội đàn hạc Hoa Kỳ (American Harp Society) và Đại hội đàn hạc thế giới (The World Harp Congress) ủy nhiệm sáng tác những bản nhạc hạc cầm để biểu diễn tại các hội nghị quốc gia và quốc tế. Việc tham gia những hội nghị này là một trải nghiệm vô cùng thú vị. Khung cảnh từng hàng từng hàng những chiếc hạc cầm lấp lánh, thường được mạ vàng (một số bằng gỗ tự nhiên hoặc sơn mài đen), được xếp ở hành lang hội trường thật tráng lệ. Hình ảnh đó đồng bộ với cảnh hàng trăm nghệ sĩ hạc cầm — những người có đôi chút khác biệt với các nghệ sĩ nhạc cụ khác — dường như đang nhẹ nhàng bay bổng khắp khán phòng, như thể giai khúc hạc cầm đã khiến họ thành một con người mới.

 

Tôi rất thích được sáng tác những bản nhạc hạc cầm, một phần vì (tôi đùa vui một chút) tôi không thể sáng tác được một khúc nhạc khó nghe dành cho cây đàn hạc. Tuy nhiên, sáng tác cho hạc cầm cũng là một nhiệm vụ khó khăn, chiếc đàn này có nhiều nốt nhạc hơn và một số ký hiệu đặc biệt không được sử dụng cho các nhạc cụ khác.


BM

Tác giả (bên trái) với nghệ sĩ đàn hạc Mario Falcao.

 

Khi chiêm ngưỡng một chiếc hạc cầm, ta sẽ choáng ngợp trước một hàng dây đàn thẳng tắp và tự hỏi sao những người nghệ sĩ có thể biết được dây nào tương ứng với nốt nào. Không chỉ có vậy, để có thể khéo léo tạo lên những giai điệu chuyên nghiệp từ những dây đàn với độ căng cao cũng là một công việc không hề dễ dàng.

 

Nếu quan sát kỹ ta có thể nhận thấy bảy dây của nốt đô (C) trong từng quãng tám có màu đỏ, và tất cả những dây nốt pha (F) có màu đen hoặc xanh dương, qua đó các nghệ sĩ hạc cầm có thể định hướng được vị trí tay trên nhạc cụ. Nhưng để có thể di chuyển chính xác qua các dây xa hơn cho các nốt ở cao độ khác sẽ phụ thuộc vào trí nhớ của cơ bắp và tầm nhìn ngoại vi, bởi người nghệ sĩ phải đọc bản nhạc và không thể luôn quan sát vị trí tay.


BM

Dây của đàn hạc được ký hiệu theo màu.

 

Lòng tôn trọng, sự nể phục của tôi đối với nghệ thuật chơi hạc cầm tăng gấp bội khi tôi biết được rằng chơi đàn hạc không chỉ yêu cầu sự linh hoạt của cả hai tay, mà còn có bảy bàn đạp (pedal) cần cả hai chân thao tác lên xuống nhịp nhàng ở một đến ba vị trí. Ví dụ, bàn đạp D sẽ đồng thời điều chỉnh cả bảy dây rê (D) trong từng quãng tám thành các âm thanh phẳng, sắc nét hoặc tự nhiên, tới khi bàn đạp đó được thay đổi lần nữa.


BM

Bàn đạp (pedal) của đàn hạc.

 

Hạc cầm chỉ có bảy dây cho mỗi quãng tám, tương tự như các phím trắng của piano. Để có được nốt “phím đen”, thì người chơi cần dùng đến các bàn đạp. Một vài nhạc cụ tiêu chuẩn khác cần dùng cả hai tay và chân để có thể chơi được các nốt phụ là đại phong cầm (pipe organ), và bộ trống rock/jazz cũng đều có bàn đạp. Sự phối hợp này cần dùng cả tứ chi, tay và chân, một cách độc lập, tương tự như việc một người cố gắng vỗ đầu và xoa bụng cùng lúc, nhưng khó gấp đôi! 

 

Lịch sử phong phú của hạc cầm

 

Có lẽ không một nhạc cụ nào đã phát triển qua nhiều phiên bản như vậy, từ chiếc hạc cầm mà David chơi để xoa dịu tâm trí vua Saul đến chiếc đàn lia của người Hy Lạp cổ, tới loại đàn hạc có bàn đạp hiện đại đã ít nhiều hoàn thiện như hiện nay kể từ cuối thế kỷ 19.


BM

David chơi hạc cầm cho vua Saul, ảnh minh họa từ “The Boys of the Bible” của Hartwell James, xuất bản bởi Henry Altemus Co.

 

Một số loại hạc cầm nhỏ Celtic và đàn hạc dân gian vẫn tồn tại cho tới ngày nay, và đều phổ biến hơn bao giờ hết. Chiếc đại hạc cầm cho hòa nhạc cổ điển đương đại mà tôi đang đề cập tới là một cây đàn lớn, cao khoảng sáu feet (1.8m), với 47 dây và âm vực khoảng 6.5 quãng tám, chỉ kém một chút so với chiếc piano.

 

Hạc cầm không được sử dụng nhiều bởi các nhà soạn nhạc trong thời kỳ Cổ điển như Mozart và Haydn, kể cả với Beethoven cũng như sau này là Brahms. Nhưng nhiều nhà soạn nhạc chủ đạo thời kỳ Lãng mạn đã sẵn sàng sử dụng loại nhạc cụ này. Ví dụ có thể kể đến là màn độc tấu hạc cầm du dương trong các vở ballet của Tchaikovsky.

 

Nhưng để có thể cảm thụ khả năng thực thụ của một chiếc đại hạc cầm với bàn đạp hiện đại cho hòa nhạc, tôi sẽ gợi ý nên thưởng thức những bản concerto hạc cầm bất hủ, như bản Concerto cho Hạc cầm và Hợp xướng ở cung Mi giáng trưởng, Op. 74 bởi nhà soạn nhạc người Nga Reinhold Glière (1875-1956). Mặc dù được sáng tác vào năm 1938, tác phẩm này vẫn có được một vị trí trang trọng  trong danh mục những bản nhạc truyền thống của Chủ nghĩa lãng mạn thế kỷ 19.


BM


Thiên tài Wolfgang Amadeus Mozart chỉ soạn đúng một bản cho đàn hạc là bản Concerto cho Sáo và Hạc cầm ở cung Đô trưởng, K. 299 năm 1778, nhưng vô cùng xuất sắc và được giới nghệ sĩ hạc cầm cũng như khán giả xem là một đóng góp lớn cho kho tàng nghệ thuật hạc cầm. 

 

Nếu để ý một chút, bạn sẽ nhận ra hạc cầm được xuất hiện thường xuyên trong những bộ phim cổ điển, bất kể là trong cảnh phim hoặc nhạc nền. Một trong những sự góp mặt tiêu biểu của hạc cầm trong nhạc nền là việc sử dụng chín chiếc đàn (count ’em, nine!) trong bản nhạc hoàn mỹ của nhà soạn nhạc Bernard Herrmann cho bộ phim “Bên dưới rạn san hô 12 dặm” (Beneath the 12-Mile Reef) năm 1953, trong đó họ đã tái hiện lại khung cảnh thiên đường dưới mặt nước. Tương tự, ông Herrmann đã sử dụng hạc cầm để khắc họa bức tranh về biển cả trong bộ phim “Hồn ma và bà Muir” (The Ghost and Mrs. Muir) năm 1947. 


BM


Một trong những sự xuất hiện đáng chú ý của hạc cầm trên màn ảnh, cũng trong 1947, là phần trình diễn độc tấu hạc cầm tuyệt đẹp bởi Cary Grant (trong vai Thiên thần Dudley) trong phim “Người vợ giám mục” (The Bishop’s Wife), với sự tham gia của Loretta Young và David Niven.

 

Trong phim, đôi tay đang gảy đàn không phải của Grant, mà thực chất là của Denzil Gail Laughton (1921-1985), người được biết đến với vai trò là một nghệ sĩ hạc cầm jazz nhiều nhất và cũng là diễn viên trong các phim và chương trình truyền hình. Đôi tay lướt trên các dây đàn hạc cầm của nghệ sĩ Laughton được đóng thế thay cho tay của diễn viên Cary Grant nhờ sử dụng công nghệ kỹ thuật vào thời đó.

 

Nhà soạn nhạc người Mỹ Michael Kurek là người đã sáng tác album cổ điển “The Sea Knows” xếp hạng nhất trên Billboard. Là người đã thắng vô số giải thưởng sáng tác, bao gồm Giải thưởng Viện Hàn lâm cho Âm nhạc danh giá từ Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn học Hoa Kỳ, ông đã tham gia vào Ủy ban Đề cử cho giải Grammy kinh điển của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Thu âm Quốc gia. Ông cũng là giáo sư danh dự về soạn nhạc của trường Đại học Vanderbilt. Để có thêm thông tin và âm nhạc của ông, truy cập bx.com.

 

 

 

Michael Kurek  _  Quỳnh Anh


 BM