Friday, July 1, 2011

Tình Xưa Nghĩa Cũ

image


Thầy Phó Tế Nguyễn Mạnh San trong cuối thập niên 1970s và đầu 1980s làm thêm nhiệm vụ đón tị nạn từ các trại tị nạn Đông Nam Á tới Oklahoma.

Phó Tế Nguyễn Mạnh San
(LTS: Thầy Phó Tế Nguyễn Mạnh San vừa xuất bản Tuyển Tập Pháp Luật Hoa Kỳ Thực Dụng, gồm nhiều bài viết do tác giả kể lại những kinh nghiệm và cảm xúc trong nhiệm vụ của một chuyên gia luật pháp tại Tòa Án Liên Bang Oklahoma và cũng là một tuyên úy mục vụ trại giam. Các bài trong Tuyển Tập trích đăng nơi đây sẽ giúp thêm kiến thức pháp luật cần thiết trong đời sống tại Hoa Kỳ. Trân trọng cảm ơn Thầy Phó Tế Nguyễn Mạnh San.)

image

Chắc hẳn những người Việt Nam chúng ta cho đến giờ phút này, có rất nhiều người không thể quên được cuộc di tản không tiền khoáng hậu, vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975 của mấy trăm ngàn người Việt, đã phải rời bỏ quê hương yêu dấu của mình được phép đến Hoa Kỳ theo diện tỵ nạn cộng sản và tiếp theo những ngày tháng năm sau đó, có hàng vạn người tiếp tục bỏ nước ra đi, vượt biên bằng những chiếc thuyền nhỏ mong manh trên biển cả hoặc bằng đường bộ, để hy vọng sẽ đến được bến bờ tự do Hoa Kỳ. Cũng chính vì lý do bất khả kháng phải rời bỏ quê hương yêu dấu của người Việt Nam chúng ta, ra đi không hẹn ngày về này mà đã có hàng ngàn người đã phải bỏ mạng trên biển cả, hoặc nhiều đàn bà và con gái bị hải tặc hãm hiếp bất kể tuổi tác, rồi kể cả những người đã may mắn đến được bến bờ tự do Hoa Kỳ, cũng phải chịu đựng biết bao nhiêu hoàn cảnh ngang trái, éo le, vui buồn lẫn lộn: Vui vì đã tìm được sự tự do trên xứ người, buồn vì phải xa lìa những người thân yêu nhất đời của mình như cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em ruột thịt, họ hàng xa gần và bạn bè thân thiết, tưởng chừng như muôn đời sẽ không còn được gặp lại mặt nhau nữa, nên có một số người trở thành mồ côi cha mẹ, mất vợ hay mất chồng, phải sống trong trạng thái cô đơn, và vì xa mặt cách lòng nên đã dẫn đưa đến một số thảm cảnh khó xử: Người có chồng còn bị kẹt lại ở Việt Nam sẵn sàng chấp nối với người có vợ còn đang bị kẹt lại ở Việt Nam vì không biết đến ngày nào mới được đoàn tụ với nhau tại Hoa Kỳ. Có một số những trường hợp, những người cựu quân nhân QLVNCH khi còn ở trong các trại tỵ nạn không dám khai thật trên giấy tờ với cơ quan di trú, là mình đã có vợ con còn đang ở Việt Nam vì sợ khai sự thật có thể sẽ làm liên lụy đến người ở lại nên đành phải khai dối là độc thân.

Nhưng sau hơn 33 năm, những người Việt thuộc đợt di tản đầu tiên hay những người vượt biên đến Hoa Kỳ đã được trên dưới 20 năm, thì hầu hết đã trở thành người Mỹ gốc Việt, nghĩa là đã nhập tịch cả rồi, và những cặp vợ chồng vì hoàn cảnh ngoài ý muốn của họ đã đưa họ đến cuộc sống vợ chồng chắp nối mà chúng tôi vừa nêu ở trên, thì ngay sau khi có chương trình đoàn tụ gia đình dành cho những người Việt tỵ nạn, có những cặp vợ chồng sống trong tình trạng chắp nối này, đã tự giải quyết tình trạng của mình một cách ổn thoả tốt đẹp, có nghĩa là cả 2 bên đều đồng ý chia tay nhau, để mỗi bên được tự do tiến hành thủ tục nạp đơn với cơ quan di trú Hoa Kỳ, xin bảo trợ chồng con hoặc vợ con còn đang bị kẹt lại tại quê nhà.

Cho đến ngày hôm nay, theo tin tức cho chúng tôi biết, vẫn còn một số trường hợp vợ chồng chung sống với nhau trong hoàn cảnh chắp nối, nhưng họ chưa muốn chia tay nhau để mỗi bên được tự do bảo trợ cho chồng con hay vợ con đang còn sống tại quê nhà vì nhiều lý do tình cảm tế nhị, không tiện nói ra đây. Tuy nhiên vẫn có một số trường hợp này, họ rầt muốn giải quyết tình trạng chắp nối, mặc dù đã sống chung với nhau trong nhiều năm qua, nhưng vì cả hai bên đều sợ bị liên lụy đến pháp luật, nhất là đối với cơ quan Di Trú Hoa Kỳ nên đôi bên không dám xúc tiến giải quyết vấn đề này.

Sau đây chúng tôi xin trình bày cùng đọc giả một câu chuyện có liên hệ đến pháp luật, đã xảy ra cách đây nhiều năm, với mục đích duy nhất của chúng tôi là xin góp ý kiến cho những cặp vợ chồng chắp nối nào ở Hoa Kỳ và hiện nay người bạn đầu đời của mình cùng với các con của mình vẫn còn bị kẹt lại tại quê nhà, mà những cặp vợ chồng này thực sự rất muốn chia tay nhau từ lâu, để mỗi bên được quyền tự do quyết định nạp đơn bảo trợ cho những người thân yêu nhất đời của mình, thì vẫn còn chưa muộn; đồng thời cũng là một dịp ngàn năm một thuở cho mình được thể hiện câu: “Tình Xưa Nghĩa Cũ” và nhắc nhở lại lời thề hứa năm xưa: “Thương Hoài Ngàn Năm” lúc ban đầu hai người yêu nhau.

image

Thật sự, như chúng ta thường biết, khi một sự việc xảy ra về mặt tình cảm, nhiều khi không còn có cách gì có thể giải quyết được sự éo le ngang trái của những người trong cuộc gây ra. Nhưng nếu chúng ta đem áp dụng những nguyên tắc pháp lý để giải quyết vấn đề tình cảm, thì hầu như mọi vấn đề khó khăn thế mấy của vấn đề, đều có thể giải quyết được, miễn là những nhân vật chủ yếu trong cuộc phải hy sinh chấp nhận một ít hay nhiều sự thiệt thòi về phần mình. Có như thế mọi rắc rối khó khăn của vấn đề tình cảm sẽ được giải quyết một cách ổn thoả cho người ở thế chủ động cũng như cho người ở thế thụ động. Một trường hợp xảy ra có nội dung tương tự như nhiều trường hợp khác, đã được giải quyết một cách tốt đẹp trong nhiều năm qua mà chúng tôi trực tiếp cũng như gián tiếp đã thu thập được từ những nhân vật chủ yếu trong câu chuyện, để xin được kể lại câu chuyện này cùng quý đọc giả và quý vị sẽ nhận xét thấy vấn đề pháp lý trong câu chuyện tình cảm này sẽ được giải quyết như thế nào, và trực tiếp giúp cho 2 người chủ yếu trong cuộc sẽ không còn bị cắn rứt trong lương tâm về vấn đề tình cảm riêng tư của mỗi người như sau:

Ông Tư là một cựu công chức trung cấp của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, đã được một trực thăng Hoa Kỳ đưa lên hạm đội 7 đang đậu ngoài khơi hải phận quốc tế vào những giờ phút chót trước khi nước mất. Ông ra đi bỏ lại Việt Nam vợ và 4 con dưới tuổi vị thành niên. Khi sang tới Hoa Kỳ, nhờ trước kia ông đã được chính phủ gửi đi tu nghiệp nhiều lần tại đây nên ông được một cơ quan tư nhân thâu dụng ông vào làm việc theo đúng ngành mà ông đã học trước kia.

Sau gần 3 năm làm việc miệt mài chăm chỉ cho quên thời gian tẻ lạnh, để tâm tư ông vơi đi một phần nào nỗi nhớ vợ nhớ các con, cuộc sống của ông gần giống như một nhà tu hành tại gia, sáng xách ô đi tối xách ô về. Suốt trong thời gian này, ông không kề quen biết một người đàn bà nào khác. Những lúc đêm khuya thanh vắng, tuyết rơi lạnh lẽo về mùa đông, ông lại đem hình ảnh người vợ xinh tươi chụp chung với 4 đứa con yêu dấu của ông ra nhìn ngắm, để hồi tưởng lại những kỷ niệm hạnh phúc êm đềm xưa kia, làm sưởi ấm một phần nào cõi lòng cô quạnh của ông trong căn phòng đơn độc nơi xứ lạ quê người.

image

Nhiều lúc ông nhìn ngắm hình ảnh vợ con trong tấm hình, làm ông động lòng thương xót mắt nhoà lệ, không còn thấy gì nữa trên tấm hình mà chỉ còn nghe thấy tiếng lòng mình thổn thức, ngậm ngùi nuốt những giọt nước mắt từ từ lăn trên đôi má xuống đôi môi ông. Nhưng người ta vẫn thường nói thời gian là liều thuốc thần tiên, quả thật đúng như vậy, chuyện gì phải đến thì cũng sẽ đến, có lúc buồn thì cũng phải có lúc vui và chỉ có thời gian mới có thể chứng minh được lòng mình.

Vào một hôm trời nắng ấm, ông Tư tình cờ gặp lại một nữ cộng sự viên duyên dáng trước kia làm việc chung một cơ quan với ông tại Việt Nam. Cô tỏ ra rất vui mừng được gặp lại ông và kể lại cho ông nghe chuyện gia đình của cô, chồng cô là một cựu sĩ quan pháo binh trong QLVNCH, nên sau một thời gian ngắn bị cầm tù ở miền Nam, thì bị đưa ra ngoài Bắc tiếp tục ở tù và không biết đến bao giờ chồng của cô mới được thả ra về, nên cô cùng 2 con đã tìm đủ mọi cách vượt biên để sang được tới đây. Rồi thoạt tiên trong tình bạn đồng nghiệp cũ, hai người thường đi lại thăm hỏi nhau, coi như bạn và chỉ trao đổi với nhau qua những câu chuyện bâng quơ cho vui, thỉnh thoảng ông lại tình nguyện đưa đón 2 con của cô đi shopping riêng với ông, giúp cho ông có cảm giác như ông đang dẫn con của ông đi chơi với ông. Trong thời gian hai người gặp lại nhau thắm thoát trôi qua mau, tưởng chừng như một cơn gió thoảng, nhất là trong lòng ôngTư bị nguội lạnh từ nhiều năm qua, nay chạm phải luồng điện ái tình làm hâm nóng lòng băng giá của ông lại. Do đó, hai người đã phải lòng nhau như câu “Cá cắn câu biết đâu mà gỡ, chim vào lòng biết thuở nào ra” và không đầy một năm sau, cô bạn đồng nghiệp của ông đã cho ra đời một cậu bé kháu khỉnh giống hệt ông như 2 giọt nước. Thế rồi đi xa hơn nữa, hai người đã dẫn nhau đến toà án địa phương để cùng nhau ký giấy giá thú chính thức thành vợ chồng…

image
Hình minh họa

Cuộc sống êm đềm của đôi uyên ương chắp nối này đang đi đến độ nồng thắm tuyệt đỉnh của tình ái, là cô sắp sửa tặng thêm cho ông Tư một công chúa xinh tươi nữa, thì ông lại nhận được một điện tín khẩn cấp của vợ ông gửi cho người bạn ông ở Pháp từ Việt Nam qua, báo tin cho ông biết là thằng con trai đầu lòng của ông 15 tuổi, bị đưa đi làm lao động công trường đã chết vì bệnh sốt rét. Tin này như một tia sét đánh trúng vào con tim ông, làm lương tâm ông hồi tỉnh lại, tự thú nhận với lòng mình là từ bấy lâu nay ông đã phạm một lỗi lầm quá lớn đối với vợ con ông ở quê nhà. Vì quá mãi mê vui thú bên người vợ chắp nối này mà ông đã quên hết tình xưa nghĩa cũ với người bạn đời ban đầu của mình, quên tất cả những lời thề hứa sẽ trung thành suốt đời mình với người vợ trong nghi thức thành hôn tại Nhà Thờ, quên cả trách nhiệm và bổn phận làm người cha đối với 4 đứa con còn thơ dại. Mặc dù nhiều lần vợ và đứa con lớn, đều viết thư hối thúc ông hãy làm giấy bảo lãnh cho vợ và các con sang đoàn tụ với ông ở bên này, nhưng ông vẫn đánh ván bài tảng lờ như không biết gì hết.
image

Theo giải thích của ông cho biết, sở dĩ ông phải đánh ván bài tảng lờ như thế là vì 2 lý do:

Điều thứ nhất, khi ông tới Hoa Kỳ, ông đã khai báo với nhân viên sở di trú là ông còn độc thân. Lúc đó ông nghĩ rằng khi khai như vậy sẽ tránh cho vợ con ông còn kẹt lại quê nhà không bị chính quyền cộng sản hạch hỏi và gây khó khăn vì có chồng đi vượt biên, hơn nữa chồng lại là một công chức trung cấp cho chính phủ VNCH hiện đang tỵ nạn tại Hoa Kỳ.

Điều thứ hai ông đã lập giá thú với người vợ chắp nối tại đây, ông nghĩ rằng nếu ông nạp giấy tờ bảo trợ cho vợ và 4 con với sở di trú, thì ông sẽ bị truy tố ra toà về 2 tội phạm: Tội thứ nhất là tội song hôn có chứng cớ hiển nhiên qua 2 tờ hôn thú. Tội thứ hai là khai man trá tình trạng độc thân qua lời tuyên thệ trước mặt nhân viên chính quyền của sở di trú Hoa Kỳ, là cơ quan có quyền tài phán. Qua những lời giải thích về sự việc diễn tiến trên đây của ông Tư, chúng ta nhận thấy ông đã viện dẫn những lý lẽ để biện minh cho hành động của ông đối với vấn đề này một cách quá chủ quan, không vững chắc, chỉ được căn cứ vào sự hiểu biết thông thường của riêng ông, vì ông thiếu sự hướng dẫn chuyên môn về Pháp Luật Hoa Kỳ thuộc loại pháp luật đa dạng và phức tạp nhất trên thế giới hiện nay.

Như chúng tôi đã trình bày ở phần đầu, là giải quyết một vấn đề tình cảm thì rất khó khăn, nhiều khi phải bó tay đầu hàng, không tìm ra lối thoát và đành phải chờ đợi phép lạ mầu nhiệm của Thượng Đế ban ơn xuống thì mới giải quyết được. Nhưng ngược lại, để giải quyết một sự việc bằng pháp lý, thì sự việc đó dù khó khăn đến đâu đi chăng nữa, vẫn có thể giải quyết được, miễn là chúng ta được hướng dẫn về pháp luật một cách chính xác tường tận. Nên nhớ rằng chúng ta đều là những người phải rời bỏ quê hương theo diện tỵ nạn cộng sản, sang đây trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt, không có thời gian để chuẩn bị tư tưởng cũng như vật chất nên mọi điều sai lầm của chúng ta trên giấy tờ, qua những lời khai không đúng sự thật với cơ quan di trú, đều có thể xin điều chỉnh lại cho đúng thực trạng, tuỳ theo từng trường hợp của mỗi cá nhân qua nhân chứng, qua những giấy khai sinh, giấy rửa tội, giấy hôn thú hay bằng những lời khai hết sức thành thật và hợp lý của chúng ta.

Trong trường hợp của ông Tư trên đây, là ông vẫn muốn bảo trợ vợ và 3 con sang đây theo diện đoàn tụ gia đình, mà ông vẫn không bị liên lụy đến pháp luật như ông đã nghĩ. Sau khi biết đích thực ông Tư thật tâm muốn bảo trợ cho vợ và các con sang đây đoàn tụ gia đình với ông, dù ông đang ở trong một tình trạng khó xử với người vợ chắp nối và sắp sửa có thêm 1 con nữa với người vợ này. Nhưng tình xưa nghĩa cũ với người vợ ban đầu đã sống lại trong con tim của ông, hình ảnh một người vợ hiền thục, duyên dáng, nết na, đảm đang đã chung sống với ông hơn 12 năm trước ngày mất nước, nhất là trải qua nhiều năm xa cách nhau, biết bao nhiêu sự đổi thay chua xót ở quê nhà mà vợ ông vẫn giữ một lòng chung thủy với ông, lòng hy sinh, tận tụy làm việc cực nhọc mỗi ngày của vợ ông để nuôi dưỡng 4 đứa con thơ dại thay cho ông, với niềm hy vọng duy nhất là sẽ có ngày được đoàn tụ với ông. Hơn thế nữa, đứa con trai đầu lòng của ông là biểu tượng của biết bao kỷ niệm êm đẹp cho mối tình đầu của vợ chồng ông, thì nay nó đã chết. Sự ra đi vĩnh viễn của nó làm thức tỉnh con tim ông, ông rất hối hận và ăn năn về những hành động sai quấy của mình đối với vợ con từ bấy lâu nay, càng nghĩ về vợ con ông đang sống thiếu thốn cơ cực ở quê nhà bao nhiêu, thì lương tâm ông lại càng bị dày vò cắn rứt bấy nhiêu, vì trong tiềm thức ông lúc này cho ông biết ông là kẻ chủ mưu phản bội người vợ chung thuỷ của ông và là người cha vô lương tâm vô trách nhiệm với con cái. Nay ông muốn làm tất cả những gì mà ông có thể làm được, để đem được vợ con sang đây, hầu có thể đền bù lại một phần nào những lỗi lầm mà ông đã phạm đối với vợ con ông.

Chúng ta vẫn thường suy luận và cùng đồng một quan điểm với nhau rằng, nếu một người nào đó trong chúng ta đã làm những điều lầm lỗi và người đó đã tự thú trong lòng, là chính mình đã làm những điều lỗi lầm đó và hứa với lòng mình là sẽ không bao giờ tái phạm những lỗi lầm đó nữa, thì những lỗi lầm đó sẽ được tha thứ và người đó sẽ trở thành kẻ đáng thương hơn đáng trách. Chúng ta có thể coi ông Tư cũng nằm trong trường hợp của một người đáng thương hơn đáng trách và ông Tư đã đến gặp chúng tôi để yêu cầu được hướng dẫn về mặt pháp lý đối với cơ quan di trú, để ông tiến hành thủ tục bảo trợ cho vợ con ông sang đây theo diện đoàn tụ gia đình như sau:
1. Tiến hành thủ tục xin ly dị người vợ chắp nối tại toà án địa phương nơi cư ngụ. Trước khi tiến hành thủ tục, ông Tư cần lựa lời giải thích cho bà ta biết rõ lý do tại sao ông phải ly dị bà ta và cần phải bày tỏ lập trường vững chắc của ông, là toà án lương tâm của ông không thể cho phép ông tiếp tục làm ngơ vấn đề bảo trợ người vợ đầu tiên và các con của ông đang chờ đợi ông từng ngày từng giờ từng phút từ Việt Nam. Thuyết phục bà nên hiểu rằng, dù ông có ly dị bà ta nhưng bổn phận thiêng liêng cao cả và trách nhiệm pháp lý của ông đối với đứa con hơn 1 tuổi và đứa con sắp trào đời của ông với bà ta, cũng như 2 đứa con riêng của bà ta vẫn không có gì thay đổi, ông hứa sẽ luôn luôn chu toàn săn sóc chúng nó về vật chất cũng như về tinh thần.

2. Ông nên nói cho bà ta biết, dù bà còn hay không còn thương yêu người chồng cũ của bà nữa, nhưng bà hãy nghĩ đến 2 đứa con riêng của bà với ông ta, hai đứa nhỏ hoàn toàn vô tội, không vì một lý do gì mà bà nỡ để chúng nó mồ côi cha. Sau này chúng khôn lớn, chúng sẽ oán hận mẹ nó là đã phản bội cha chúng nó. Như vậy việc ly dị sẽ giúp ích cho cả 2 người: Bà ta sẽ dễ dàng nạp đơn bảo lãnh cho chồng của bà, còn ông sẽ bảo lãnh cho vợ và các con của ông.

3. Trong trường hợp bà ta bằng lòng ly dị ông, ông chỉ cần nhờ một luật sư (tốn khoảng từ $150 đến $300) để thảo ra một thoả ước hỗ tương, ông bằng lòng sang nhượng những gì của ông mà bà ta đòi hỏi, dành quyền người mẹ nuôi dưỡng 2 đứa con của ông cho bà ta, ghi rõ số tiền ông phải cấp dưỡng hàng tháng cho bà ta để nuôi 2 đứa con cho đến tuổi trưởng thành, ghi rõ quyền đến đón 2 đứa con về với ông cuối tuần là bao nhiêu lần của mỗi tháng. Ông có thể đưa bản thoả ước này cho bà ta ký tên và có thị thực chữ ký, hoặc ông có thể đưa bà ta đến văn phòng luật sư của ông để ký tên. Tuỳ theo luật lệ của mỗi Tiểu Bang, sau khi luật sư đệ nạp hồ sơ xin ly dị tại toà, thông thường phải chờ đợi tối thiểu từ 6 tuần trở lên mới nhận được bản án ly dị.

4. Trong trường hợp bà ta không chịu ly dị ông, ông vẫn có thể nhờ luật sư tiến hành thủ tục ly dị bà ta tại toà mà không cần có sự ưng thuận của bà ta. Như vậy thời gian để nhận được bản án ly dị sẽ kéo dài lâu hơn, vì cả hai bên sẽ phải đối chất nhau trước phiên toà xử, và có thể phải chờ đợi từ 3 cho đến 6 tháng mới nhận được bản án ly dị. Lẽ dĩ nhiên bà ta sẽ được quyền nuôi con và ông phải cấp dưỡng tiền hàng tháng cho bà ta nuôi 2 đứa con của ông (Child support), có thể ông phải cấp dưỡng tiền thêm cho 2 đứa con riêng vẫn còn dưới tuổi vị thành niên của bà ta. Vì khi ông ký giấy giá thú với bà ta, là mặc nhiên ông đã chấp nhận chúng nó làm con nuôi của ông, vì khi đó chúng nó vẫn còn dưới tuổi vị thành niên, nhưng ông không phải cấp dưỡng tiền cho bà ta (Alimony) vì bà ta đang đi làm việc có lợi tức cao.

5. Khi đã nắm trong tay bản án ly dị, tức nhiên tình trạng gia đình của ông trở lại như cũ, ông đến sở di trú ngoại kiều tại địa phương để tiến hành thủ tục bảo trợ cho vợ và 3 con của ông. Trong đơn bảo trợ phải kèm theo giấy hôn thú và giấy khai sanh của các con, kèm theo bản dịch các giấy tờ này từ tiếng Việt sang tiếng Mỹ. Vì lời khai man là độc thân trước đây của ông nên sở di trú trước khi chấp thuận đơn xin bảo trợ, ông có thể nhận được thư của sở di trú mời ông đến phỏng vấn, để nghe ông giải thích về sự sai lệch này. Ông cứ khai hết tất cả sự thật, là lúc đó ông sợ vợ con ông ở Việt Nam sẽ bị liên lụy vì chức vụ của ông thuộc thành phần công chức tín nhiệm trong chính phủ VNCH trước ngày mất nước. Nên hiểu rằng luật di trú Hoa Kỳ đôi khi được thi hành một cách linh động tuỳ theo từng trường hợp đặc biệt, nó bao hàm tính chất chính trị nhiều hơn là áp dụng biện pháp chế tài theo luật hình sự. Do đó, vấn đề khai sự thật của ông sẽ được nhân viên hữu trách sở di trú xét như một trường hợp đặc biệt về sự sai lầm của ông, miễn là trong tay ông không còn có 2 tờ giá thú bị coi là phạm tội song hôn (bigamy) và lời khai gian độc thân trước kia của ông sẽ được điều chỉnh lại thành có vợ, để ông hội đủ điều kiện nạp đơn xin bảo trợ cho vợ và các con của ông từ Việt Nam sang Hoa Kỳ đoàn tụ gia đình.

Đúng như sự dự đoán của chúng tôi đã cố vấn cho ông Tư về vấn đề vừa nêu trên, ông đã thuyết phục được người vợ chắp nối này, để bằng lòng ly dị ông theo tất cả những điều kiện được vị luật sư ghi trong tờ thoả ước do ông đề nghị. Ông cũng không gặp một trở ngại nào với sở di trú trong việc xin điều chỉnh tình trạng và nạp đơn bảo trợ cho vợ con của ông. Điều đáng mừng hơn nữa, là chúng tôi được biết vợ và 3 người con của ông đã được đoàn tụ với ông tại Hoa Kỳ và hiện nay 2 trong 3 người con của ông, một người trở thành nha sĩ và một người đã trở thành dược sĩ; còn mối liên hệ tình cảm giữa ông và người vợ chắp nối hiện nay ra sao, thì hoàn toàn chúng tôi không biết rõ. Sở dĩ chúng tôi kể lại câu chuyện cũ này đã xảy ra cách đây hơn 15 năm, là vì mới khoảng hơn 2 tháng trước đây, có 2 trường hợp nội dung cũng tương tự như trường hợp của ông Tư trong câu chuyện trên đây, đã gọi điện cho chúng tôi từ Tiểu Bang California và Texas yêu cầu được tư vấn về vấn đề này. Trước khi xin được kết thúc đề tài mang tính chất vừa tình cảm lẫn pháp lý này, chúng tôi cầu mong sao, nếu còn có những trường hợp tương tự như trường hợp của ông Tư trong câu chuyện kể trên, thì sớm đưọc điều chỉnh lại tình trạng và được đôi bên giải quyết một cách công bằng ổn thoả, để cho những người vợ hiền chung thuỷ, những người chồng gương mẫu, những người cha biết thương yêu con cái và những đứa con thơ dại, mau sớm được sum họp gia đình tại nơi phần đất tự do này.
 

Lịch sử của giày cao gót

image


image

Trong thế giới cổ tích, giày đã mang hạnh phúc trọn đời đến cho Tấm và cô bé Lọ Lem. Còn ở thế giới hiện đại, Marilyn Moore đã có một câu nói bất hủ: ‘Tôi không biết ai đã tạo ra đôi giầy cao gót, nhưng chắc chắn rằng tất cả phụ nữ trên thế giới này đều phải mang ơn ông…”

image

Người tiên phong cho kiểu giầy cao gót chính là nữ hoàng Victoria. Vì nữ hoàng là người có chiều cao khá khiêm tốn, nên để tăng sự tôn kính, những người hầu cận đã nghĩ ra loại giầy cao gót riêng cho nữ hoàng.

Rồi cũng từ đó, các bà các cô trong giới quý tộc nhất loạt theo mốt của nữ hoàng. Cho đến tận bây giờ, giày cao gót vẫn tượng trưng cho vẻ đẹp nữ tính và quý phái cho các bà , các cô trên khắp thế giới.


image
Năm 1953, một sáng tạo vỹ đại trong ngành thời trang đã được hai thợ giày bình dân ở châu Âu: Roger Vivier (người Pháp) và Salvatore Ferragamo (người Ý) cho ra đời – đó chính là giầy cao gót. Trong cuộc hành trình hơn nửa thế kỷ qua, giầy cao gót đã trở thành ‘kẻ bề tôi’ trung thành của sắc đẹp phụ nữ.

Thủa ‘hồng hoang’...

image

Giầy cao gót còn khá thô sơ, nặng nề với phần gót cao được làm bằng gỗ, nhưng nó rất dễ gãy, mủn và thường gây đau đớn cho người sử dụng nên người ta đã thay thế nó bằng sắt và rất nhiều chất liệu khác nhau như hiện nay.

image

Chắc chắn lúc bấy giờ Roger Vivier và Salvatore Ferragamo khó lòng có thể tưởng tượng được sản phẩm của mình lại có ‘sức công phá’ mạnh mẽ đến thế và ‘đứa con’ mà họ ‘thai nghén’ bao lâu lại trở thành một mỏ vàng vô hạn của ngành công nghiệp da giày về sau.

Kẻ bề tôi của sắc đẹp

image

Các đấng mày râu ngày nay thường nghĩ chỉ có đàn bà mới đi giầy cao gót, mặc váy nhưng hiếm ai biết được khi mới khai sinh, giầy cao gót được cả hai phái yêu thích. Đế giầy càng cao càng chứng minh được đẳng cấp của người sử dụng.
Dần dần các quý ông nhận ra rằng, muốn làm việc tốt thì hơn hết là hãy di chuyển trên mặt đất nên từ đó chỉ có phụ nữ với niềm đam mê làm đẹp vẫn đi theo lời mời gọi của những đôi giầy quyến rũ.

image

Trong chúng ta, ai có thể phủ nhận được sự tuyệt vời của ‘món quà’ mà hai nhà thiết kế Roger Vivier và Salvatore Ferragamo đã dành tặng cho ‘một nửa thế giới’? Không chỉ giúp ‘ăn gian’ chiều cao, giầy cao gót còn luôn luôn tôn thờ những đường cong của phái đẹp, mang lại cho họ vẻ mềm mại, uyển chuyển như con cáo xinh đẹp khi quyến rũ bạn tình.

image

Sẽ nhạt nhẽo, hờ hững thế nào khi nàng diện một chiếc váy gợi cảm hay chiếc áo đầm lộng lẫy nhưng lại thiếu đi đôi giầy cao gót nâng niu, âu yếm gót hồng?!!

image


‘Gia vị’ của sự gợi tình

Trong ngành công nghiệp thời trang, các mẫu mốt luôn có sự chuyển mình để tạo sự đột phá thì giày cao gót không hề thay đổi kiểu dáng cơ bản của mình suốt hơn 50 năm qua. Bởi lẽ giầy cao gót được ví như gia vị cho sự gợi tình của phụ nữ.
95% đàn ông được hỏi đều nói thích ngắm vòng ba của phụ nữ khi họ đi giầy cao gót. Dường như cặp mông căng tròn, và vòng eo thêm thon thả, ngọt ngào hơn rất nhiều. Chính vì thế mà đôi giày cao gót làm cho phụ nữ tăng sức hấp dẫn lên tới 25%, một tỷ lệ cao hơn cả khi bạn sử dụng các loại mỹ phẩm đắt tiền.
Còn xét về phương diện khoa học mà nhìn nhận thì một đôi chân được kéo dài hơn và luôn được đặt trong trạng thái thẳng đứng là một trong những dấu hiệu sẵn sàng cho một cuộc ‘yêu’ nồng nhiệt ở các loài động vật có vú. Đó cũng chính là lý do vì sao những bước đi nhún nhảy trên đôi giày cao gót lại được gọi một cách hoa mỹ là bước đi của sự khêu gợi.

image

Chưa hết, trong một số trường hợp nguy hiểm, giày cao gót có khi còn được phụ nữ dùng như một thứ vũ khí tự vệ lợi hại, phần gót nhọn của giày có thể làm bị thương những kẻ tấn công khỏe mạnh và liều lĩnh nhất...

Và một xuất xứ khác

image

Giữa hai phát minh: xe hơi và giày cao gót nữ, phát minh nào vĩ đại hơn, sợ rằng khó có người nói rõ được.

image

Tương truyền thời cổ đại, có một cô nàng xinh đẹp được nhiều người yêu mến, khi gặp cô mọi người thường thích hôn vào trán cô. để tránh điều đó, cô gái đã cho đóng một đôi giày có gót rất cao để người ta không thể hôn vào trán cô được nữa.
Mặc dù việc phát minh ra giày cao gót có thể truy ngược đến tận thời đại trước khi đạo Cơ đốc ra đời, nhưng đến thế kỷ 16, nó mới trở thành mốt phổ biến. Có công phát triển rộng rãi giày cao gót là tiểu thư Catherine thuộc một dòng họ hiển hách ở Italy. Tiểu thư này khá lùn, khi kết hôn với Vua Henry đời thứ hai của nước Pháp, cô đã mang theo mấy đôi giày cao gót được một người thợ đóng giày Italy đóng rất khéo, mục đích là để làm cho cô cao hơn một chút. Trong lễ kết hôn, đôi giày cao gót của Catherine đã làm náo động một thời, trong chốc lát cô trở thành người phụ nữ khiến người ta để mắt nhiều nhất trong buổi vũ hội của cung đình. Thế là các thợ đóng giày châu âu lập tức mê đôi giày cao gót của Catherine và ra sức phỏng chế đôi giày đó, hơn nữa còn đóng gót cao hơn. Từ sau đó, giày cao gót nhanh chóng trở thành tiêu chí cho địa vị quý tộc, trong một thời gian rất dài, nữ giới bình dân không có tư cách đi giày cao gót.

image

Giày cao gót những năm ấy vừa cao vừa nhỏ đến nỗi các nữ sĩ không thể không dùng một cái gậy dài để giữ cân bằng. Là một thời trang mới, giày cao gót được truyền sang châu Mỹ. Sau đại chiến thế giới thứ hai, giày cao gót mới được người phương Tây đưa vào Nhật. Lúc đó ở Nhật Bản có nhiều lớp huấn luyện đặc biệt, chuyên dạy nữ giới làm thế nào mang giày cao gót mà đi đường được.

image
 
Nhà nghiên cứu về lịch sử trang phục - Wilscok, khi trình bày về thế kỷ 16 châu âu đã viết: Khi đi lúc lắc mông là một môn nghệ thuật trong mắt người châu âu lúc đó, một chỗ làm rung động lòng người nữa là khi các bà các cô đi bộ, họ phải hơi vén váy lên để lộ ra đôi chân đi giày cao gót và đôi tất bằng tơ khiến nhiều người không thể không đưa mắt liếc nhìn.

image

Ngoài những điều đó ra dần dần người ta đã phát hiện thêm nhiều điều mới lạ, thích thú khi thấy nữ giới đi giày cao gót. Vì khi đi giày cao gót, các bà các cô phải thót bụng ưỡn ngực mới giữ được cân bằng thân thể, và như vậy đã làm cho hình dáng đôi gò Bồng đảo dâng lên, mỗi bước đi của nữ giới càng thêm quyến rũ, càng làm các bậc nam nhi bị hút hồn.

image

Việc phát triển thời trang ở Mỹ thường lạc hậu hơn châu âu. Những năm 50 của thế kỷ 19, ở thành phố New Orleans trong những kỹ nữ của một kỹ viện có một số người mới từ Pháp sang, tất nhiên là họ mang theo một số đôi giày cao gót. Những khi các cô gái này mang giày cao gót, lúc la lúc lắc đi lại trong kỹ viện đã tăng thêm sức hấp dẫn khách làng chơi rất nhiều. Nhờ đôi giày cao gót, các cô đã trở thành những kỹ nữ ăn khách nhất. Chủ nhà chứa không bỏ lỡ cơ hội, cho đặt hàng tại Pháp một loạt giày cao gót khác nhau để trang bị cho toàn bộ kỹ nữ còn lại.

image
Sau khi tin tức này truyền đi, nhiều đức ông chồng cũng bắt đầu mua giày cao gót cho vợ.
Những đôi giày cao gót cũng trở nên càng ngày càng quý giá xa xỉ. Người ta thêu hoa dệt gấm trên các mũi giày, khâu vào đó các viên ngọc quý, có đôi giày giá trị tới mười vạn đôla Mỹ. Vua Louis IV nước Pháp cũng là một người mê giày cao gót, và là người sáng tạo ra kiểu " giày cao gót Louis" ngày nay.

image

Tuy vậy, giày cao gót không phải là đặc quyền của nữ giới, những năm 70 của thế kỷ này, đàn ông Mỹ có người đi giày cao gót cao tới 3 tấc Anh, có khi còn cao hơn. Trên thực tế hầu như toàn bộ nữ giới đều đi giày cao gót, còn đối với nam giới, chỉ là số ít. Vì sao lại thế, không nói bạn đọc cũng rõ.

image 



 

Đã đến lúc nói thẳng với Trung Quốc

image


TẨY CHAY HÀNG TRUNG CỘNG LÀ YÊU NƯỚC THƯƠNG NÒI!

Tàu cộng tung ra thị trường,
Hàng hóa đ
ộc hại, rõ phường vô nhân !

Thức ăn mỗi ngày thấm dần,
     Phá trong c
ơ thể, suy ngầm kháng sinh.

Đồ dùng gây phản ứng nhanh,
     Ng
ứa, xưng, đỏ biến thành bệnh ngay.
Tâm ma, phù thủy bàn tay,
     Óc qu
ỷ mong thế giới này đảo điên.
Ai ơi ! Đừng ham rẻ tiền
Nguy hiểm sinh mạng, thuốc tiên khó lành!
Cộng-Đồng tuyên cáo, soạn thành,
    B
ản tin quan trọng phát thanh lan truyền.
Nguyệt-San, Tuần-Báo khẩn tin,
      Hàng hóa Tàu c
ộng gây bao hiểm nghèo!
Tai ương đất VIỆT chúng gieo,
      L
ấy người, chiếm đất bao điền ngược ngang.
Chủ nhiều cơ sở chúng làm,
      Nhân công dân VI
ỆT, đói than thấu Trời!
Khấn xin diệt lũ đười ươi,
     Không còn ách n
ạn, xây đời hiển vinh

Trần-Chinh-Nương



image
Tiến sỹ Vũ Duy Phú

Tác giả cho rằng chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi ở TQ có nguồn gốc sâu xa từ trong lịch sử phong kiến Trung Hoa.

Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi tham lam bành trướng bá quyền Trung Quốc hiện nay là hiện thân của phong kiến Trung hoa từ ngàn xưa.
Trung Quốc, sau khi làm cách mạng dân tộc dân chủ tư sản thắng lợi 1949, đã định hướng (lý thuyết) tiến tới xây dựng xã hội chủ nghĩa đích thực nhưng theo quy luật tự nhiên, không thể bỏ qua giai đoạn phát triển Tư bản chủ nghĩa như đang diễn ra.

Sự chớ trêu là ở chỗ, các nước tư bản chính hiệu đã trải qua hết những giai đoạn phát triển sơ khai, tích lũy tư bản ban đầu từ thực dân cũ, thực dân mới, đến đế quốc, rồi chiến tranh dành giật thị trường, chia lại thuộc địa...

Họ cũng đã trải qua hết vinh, nhục, thắng, bại, phục hưng, suy thoái nhiều lần và nhiều dạng thức khác nhau, qua hai, ba thế kỷ, nay đã chuyển sang thời kỳ tư bản chủ nghĩa chín muồi, liên kết hội nhập toàn cầu trên nền tảng văn minh tư sản, dân chủ nhân quyền, kinh tế tri thức và xã hội hóa dần dần doanh nghiệp và lao động, hướng tới những nhiệm vụ cấp bách toàn nhân loại đang đòi hỏi giải quyết gấp rút và thiết thực hơn...

Trong khi đó thì Trung Quốc, to lớn gần 1 tỷ rưỡi dân, mới bước vào thời kỳ tích lũy tư bản ban đầu để tăng trưởng kinh tế, phát triển muộn theo con đường tư bản chủ nghĩa.

“Nông nổi, bồng bột”

image 

Chính bởi vì là một nước quá lớn, nên Trung Quốc không thể đi tắt đón đầu bỏ qua các giai đoạn phát triển cổ điển cần thiết của tư bản chủ nghĩa.
Nhưng, một mặt, Trung Quốc lại có tham vọng rất lớn muốn chiếm đoạt vị trí đứng đầu thế giới một cách nhanh chóng.

Nên chủ trương của một bộ phận giới tinh hoa Trung Quốc nông nổi, bồng bột, nghĩ rằng, với số dân lớn, tổng sản lượng to, có thể xây dựng lực lượng quân sự hùng mạnh... giúp vượt qua nhanh chóng những khuyết tật của tư bản chủ nghĩa cổ điển, nhanh chóng bành trướng, chiếm đoạt để xoán ngôi cường quốc đứng đầu thế giới.

Mặt khác, vì trật tự thế giới từ lâu đã “an bài”, tài nguyên và các nguồn nhiên liệu chiến lược từ lâu đã được “phân chia” xong, trong khi khủng hoảng thiếu nhiều mặt của loài người đang tới gần; tình trạng suy thoái đạo đức chính trị xã hội, cùng những mâu thuẫn nội quốc nhiều mặt vẫn đang nổi lên như một nguy cơ tiềm tàng có thể làm sụp đổ chế độ (TQ) từ bên trong.

Những điều đó không chỉ đe dọa nghiêm trọng tham vọng bá chủ thế giới, mà còn đe dọa ngay sự ổn định và tồn tại của chế độ hiện tồn tại của Trung Quốc.
Đó chính là nguyên nhân quan trọng nhất thúc đẩy một bộ phận chính quyền và người dân Trung Quốc hoang mang, lo lắng, trở nên mất sáng suốt và thiếu nhân đạo, đã đang đưa ra hoặc thôi thúc lãnh đạo nước họ ra những chủ trương, chính sách và hành động mất khôn ngoan.

Thậm chí đây là những chính sách dã man, sảo quyệt, đe dọa hoặc tạo ra mối đe dọa tiềm tàng đối với nhiều vấn đề, nhiều khu vực, nhiều nước trên thế giới, mà cụ thể nhất là tại Đông Á và Đông Nam Á, trong đó điển hình nhất là đối với Việt Nam.

‘Cái khó và dở’

image

Trung Quốc cho biết sẽ tăng cường hải quân và các hoạt động hải giám và tuần duyên trên Biển Đông.
Cái khó và cái dở của Trung Quốc là ở chỗ, một mặt, chính vì là kẻ đến sau, phát triển Tư bản chủ nghĩa muộn, chưa từng trải nghiệm những “vinh quang cùng thất bại cay đắng” như những nước tư bản đi trước, nên mới dám đặt tham vọng sớm vươt qua các nước tư bản đi trước, bằng chính những công cụ bạo lực và thủ đoạn mà các nước đó từng sử dụng.

Trung Quốc đã quên tâm trạng hận thù trong quá khứ khi bị các cường quốc thời trước chèn ép.
Mặt khác, thời thế đã thay đổi rất nhiều, văn minh thế giới đã khác hẳn thời xưa, nên ý đồ bành trướng cho nhanh, chiếm đoạt cho nhiều, tích lũy tiềm lực kinh tế lớn để có đủ khả năng chèn ép các nước khác, xoán ngôi đứng đầu thế giới hòng đem lại nhiều “lợi ích to lớn” phi nghĩa cho bản vị dân tộc của mình, bây giờ đã không còn thích hợp.

Thế giới ngày nay không chấp nhận một nước đứng đầu trên nền tảng áp đặt, cường quyền, phi nhân tính và chủ yếu lại chỉ dẫn đầu về lực lượng vật chất.
Một mô hình chính trị văn hóa xã hội tiến bộ để được thế giới thừa nhận là điều kiện cần cho một nước đứng đầu thế giới, thì còn lâu Trung Quốc mới với tới.
Sự lệch pha rất lớn giữa phát triển kinh tế và chính trị xã hội vốn tạo ra nguy cơ tiềm tàng nội sinh chính là chỗ yếu nhất, là kẻ thù bên trong của Trung Quốc bá quyền hiện nay.
Và đấy lại chính là một trong những đồng minh tự nhiên của chúng ta giúp sức cản phá những ý đồ và hành động ngang ngược lộng hành, hướng khó khăn bên trong ra bên ngoài của Trung Quốc hiện thời.

‘Tư duy sai lầm’

image 

Tuy nhiên, nên nhớ rằng, những hành động bạo hành, bất chấp luật pháp và dư luận thế giới hiện nay của Trung Quốc ở Biển Đông chính là kết quả của tư duy sai lầm từ gốc chỉ của một bộ phận giới lãnh đạo Trung Quốc hiện đại.
Chúng ta tin rằng, những tư duy kiểu ấy, những hành động nông nổi, nóng vội mang dáng dấp cuồng vọng hùng hổ phát triển ác tính kiểu Maoist Đại nhẩy vọt, Cách mạng Văn hóa, Gió Đông thổi bạt gió Tây.
Nay, thay vì đả đảo “Đế quốc Mỹ là con hổ giấy”, lại đang cố dựng lên một “Đế quốc Mỹ” mới trong lòng Trung Quốc nhưng sớm muộn sẽ bị chính nhân dân Trung Quốc và người dân thế giới chống lại, nên tất yếu những tư duy ngông cuồng ấy sẽ thất bại.

Trên cơ sở những trình bầy và nhận định như trên, thì chủ trương tuyên truyền, vận động sâu rộng bản chất vần đề cho đông đảo nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới biết bản chất sâu xa của vấn nạn bành trướng Trung Quốc hiện đại là vô cùng quan trọng.
Điều này phù hợp với chủ trương chung đa phương, hòa bình, giải quyết vấn đề Biển Đông mà hội nghị Bộ trưởng quốc phòng các nước, trong đó có Trung Quốc, vừa đồng thuận.

Tuy nhiên, chúng ta (Việt Nam) tuyệt nhiên không nên có một chút chủ quan lơ là trong việc chuẩn bị tư tưởng và lực lương để tạo ra nhiều sáng kiến và tổ chức đối phó với những hành động bành trướng bá quyền đang lên hiện nay của Trung Quốc.


Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của Tiến sỹ Vũ Duy Phú, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu các Vấn đề Phát triển (VIDS/Vusta). Tác giả từng tu nghiệp tại Trung Quốc và hiện phụ trách Diễn đàn Dư luận Phát triển thuộc Viện VIDS.


VN Xây Phố Tàu, Đón Nhập Cư: Sẽ Đẩy Dân Việt Ra Ngoại Ô...

Bài viết nhan đề “Khi người Việt Nam xây phố dành riêng cho người Hoa?” của tác giả Trần Minh Quân đăng trên báo Tuần Việt Nam hôm 29-6-2011 đã nêu lên nhiều nan đề, rằng với tình hình chính phủ VN ưu ái dân TQ, xây nhiều Phố Taù tại VN cho dân TQ, rồi “nhập cư ồ ạt đến từ Trung Quốc thì không biết trong vài chục năm nữa, người dân Việt Nam sẽ đi về đâu?”
Đặc biệt, bài viết kết thúc bằng câu hỏi bi quan, “...trong một tương lai không xa, người Việt Nam sẽ không còn được làm chủ trên chính mảnh đất của mình?”
Bài viết trích các đọạn quan trọng như sau:
“...Ngày nay, làn sóng di cư người Trung Quốc sang Việt Nam vẫn không ngừng gia tăng. Không giống như trước đây, người Trung Quốc đang di cư sang Việt Nam bằng nhiều con đường khác nhau nhưng chủ yếu là lao động phổ thông từ các gói thầu EPC. Theo thống kê không chính thức của các cơ quan báo chí thì hiện có khoảng 90% gói thầu EPC đang được các nhà thầu Trung Quốc thực hiện, trong đó, ngoài các nguyên vật liệu, thiết bị cần thiết thì ngay cả lực lượng lao động phổ thông cũng được các nhà thầu này "xuất khẩu" sang Việt Nam.
Hiện chưa có con số thống kê chính thức nhưng có thể nói số lượng người Trung Quốc nói riêng và người gốc Hoa nói chung đang hiện diện trên đất nước Việt Nam là rất lớn. Có lẽ, trong tất cả các sắc dân nước ngoài đang sống trên lãnh thổ Việt Nam thì người Hoa là cộng đồng dân cư nước ngoài có số lượng đông nhất.
Liệu đây có phải là một quyết định quá "ưu ái" cho cộng đồng người Hoa nơi đây nói riêng và các địa phương khác nói chung?
...Việt Nam là một quốc gia với đặc điểm đất chật, người đông và nền kinh tế chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp. Hiện nay, nhiều khu đất canh tác truyền thống thuộc dạng "bờ xôi, ruộng mật" đang dần nhường chỗ cho các dự án khác như khu công nghiệp, sân golf, ... Người Việt Nam đang đối diện với nguy cơ thiếu đất canh tác và đất ở nghiêm trọng. Nếu phải gồng mình chia sẻ tài nguyên đất đai vốn dĩ hạn hẹp với người dân nhập cư ồ ạt đến từ Trung Quốc thì không biết trong vài chục năm nữa, người dân Việt Nam sẽ đi về đâu?
...Trước những điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên đất đai đang rất hạn chế như đã nói đối với Việt Nam và lịch sử hình thành của những khu phố người Hoa trên khắp thế giới, thì việc xây dựng một khu phố mới toanh đặc biệt chỉ dành cho người Hoa như khu Đông Đô Đại Phố đang được triển khai đầu tư xây dựng ngay giữa trung tâm Thành Phố Mới ở Bình Dương, thực sự đang gây nên nhiều quan ngại. Khu phố này do chính Công ty Becamex IJC tỉnh Bình Dương làm chủ đầu tư.
Nhiều người sẽ đặt ra những nghi vấn rằng tại sao phải xây dựng một khu phố người Hoa mà không phải của một dân tộc nào khác ở ngay trung tâm đô thị được giới thiệu là trung tâm hành chính trong tương lai của một  tỉnh? Tại sao không để một khu phố rất đặc trưng như vậy hình thành theo quy luật sinh tồn như vốn có của nó từ hàng nghìn năm nay trên khắp thế giới? Liệu người Việt Nam có bị bắt buộc phải không được bén mảng đến đây (trên chính đất nước Việt Nam) như tại một Casino quốc tế ở Đà Nẵng, hay một sân gofl ở ngay địa đầu Móng Cái?
Trong những năm qua, tại một số tỉnh thành phía Nam như Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh bỗng đều đang có ý định "dời đô". Trong đó Bình Dương là một tỉnh đi đầu trong việc xây dựng một thành phố mới, là bước đệm cho việc di dời các cơ quan hành chính chủ chốt của tỉnh về thành phố này. Điều đáng nói là ngay sau khi đầu tư xây dựng một số cơ sở hạ tầng như đường sá, cầu cống,... thì Bình Dương cho tiến hành ngay dự án dành riêng cho người Hoa? Liệu đây có phải là một quyết định quá "ưu ái" cho cộng đồng người Hoa nơi đây nói riêng và các địa phương khác nói chung?
Nếu việc này cũng là tiền đề cho các địa phương khác đang có ý định "dời đô" noi theo thì rất nhiều khả năng sẽ tồn tại những khu phố người Hoa khác do chính Việt Nam xây dựng nên? Khi đó, liệu người Việt Nam có bị đẩy lùi ra khỏi khu trung tâm của những thành phố mới trong tương lai? Và, khi bắt tay xây dựng những khu phố "dành riêng" khác tương tự liệu các nhà đầu tư Việt Nam có khi nào nghĩ đến trong một tương lai không xa, người Việt Nam sẽ không còn được làm chủ trên chính mảnh đất của mình?”
Một điểm trong bài được nêu để suy nghĩ: khi các tỉnh dời đô (như tỉnh Bình Dương), thì dân Việt Nam tự nhiên bị mất thế cư ngụ ở trung tâm đô thị, và các Phố Tàu xây liền ở các thành thị mới, đường phố tân kỳ hơn...


Niềm tin của TQ


Người Trung Quốc rất hiểu Việt Nam. Họ có mặt ở Việt Nam rất đông, với nhiều lý do: làm ăn buôn bán, hợp tác, và không loại trừ cả mục đích do thám. Gián điệp Trung Quốc đã có mặt ở Việt Nam từ thời An Dương Vương, chui vào tận nơi cao nhất của bộ máy cầm quyền. Không một người Việt nào lại không biết điều này. Thất bại của An Dương Vương đã mở đầu cho một ngàn năm Bắc thuộc đau khổ của cả dân tộc. Người Trung Quốc có thể nói tiếng Việt như người Việt. Kể cả những người không ở Việt Nam cũng rất hiểu Việt Nam vì họ nghiên cứu Việt Nam rất kỹ.

Trung Quốc hiểu rõ Việt Nam đương đại ở mấy điểm sau đây:
Việt Nam đang suy yếu về mọi phương diện. Biểu hiện dễ thấy nhất là về kinh tế: lạm phát tăng liên tục và chưa nhìn thấy khả năng kiềm chế và khắc phục. Nhiều vùng hiện nay đang lâm vào cảnh đói ăn.
Suy yếu về kinh tế tất yếu dẫn tới suy yếu về quân sự. Bởi lấy đâu ra ngân sách để đầu tư đúng mức cho quân sự. Trong khi đó thì thất thoát tài chính kinh hoàng diễn ra hàng ngày ở mọi lĩnh vực, mà một ví dụ điển hình giờ đây không ai còn có thể chối cãi là Vinashin.

Điều quan trọng là người Việt Nam đang suy yếu về tinh thần. Hiện nay chỉ có một bộ phận rất nhỏ trong tổng số hơn tám mươi lăm triệu người là còn dám phân tích, dám suy nghĩ, dám đối diện với thực tế và dám nắm bắt thực tế. Đại bộ phận hoặc bị tê liệt các khả năng ấy vì sợ hãi, hoặc các khả năng ấy bị bóp nghẹt từ trong trứng nước, đầu óc chỉ còn có thể tiếp nhận các chỉ thị một chiều từ trên xuống và thực hiện chỉ thị một cách vô điều kiện. Đa số người dân Việt Nam không quan tâm đến thực trạng của đất nước mình, không quan tâm đến những gì đang đe dọa cuộc sống của mình và vận mệnh của đất nước mình. Đa số đều thực hành triết lí: sống ngày nào biết ngày đó. Chính quyền tưởng đã thành công khi làm cho dân chúng sợ mình, nhưng đó là một sai lầm trầm trọng, vì giờ đây, khi phải đối diện với sự suy thoái kinh tế, đối diện với sự đe dọa của ngoại xâm, thì những người dân đó không còn đủ khả năng để ứng phó với tình hình. Trung Quốc không mong gì hơn điều đó.

Trung Quốc hiểu rằng, với cơ chế và cách thức vận hành xã hội hiện tại, năng lực của người Việt Nam bị suy yếu.
Các “năng lực”, “phẩm chất” hiện được đặc biệt phát triển ở người Việt Nam là:
- Khả năng lấy lòng người khác, làm hài lòng cấp trên.
- Khả năng chịu đựng, nhẫn nhục. Chữ “nhẫn” của Tàu được bày bán đầy ở Văn Miếu mỗi dịp xuân về, nhắc cho người Việt Nam biết rằng nhẫn nhục là con đường sống của họ. Họ tưởng rằng như vậy là khôn ngoan, nhưng kết cục là nhà nhà nhẫn nhục, người người nhẫn nhục sẽ có một quốc gia nhẫn nhục, hệ quả là sự suy yếu tập thể. Trung Quốc không mong gì hơn điều đó.
- “Năng lực” phục tùng, vâng lời. Đây là một “phẩm chất” được đánh giá cao trong hệ thống nhà nước. Những người thành công nhờ vâng lời tất yếu cũng muốn người khác phải vâng lời họ, họ sẽ kìm hãm những người có khuynh hướng hoạt động độc lập, có khả năng suy nghĩ độc lập. Vì thế, khi mà sự phục tùng được đề cao thì hiệu quả công việc bị sụt giảm, bộ máy nhà nước cồng kềnh và kìm hãm sự phát triển. Trung Quốc rất hài lòng trước hiện tượng này.
- Năng lực và nghệ thuật đưa hối lộ. Năng lực này được bồi dưỡng ngay từ khi thời thơ ấu, bắt đầu từ việc đưa phong bì cho giáo viên hay bác sĩ.
- Năng lực và nghệ thuật nhận hối lộ. Càng lên các cấp cao trong hệ thống quản lí thì năng lực này càng pháp triển. Trung Quốc hiểu rằng việc chống tham nhũng ở Việt Nam chỉ là nói cho có nói mà thôi, không bao giờ thực hiện được. Trung Quốc khuyến khích tham nhũng ở Việt Nam phát triển vì hiểu rằng nó sẽ thúc đẩy sự suy tàn nhanh chóng của đất nước này.
- Năng lực “ngu hóa”: tự làm cho mình ngu si, tự triệt tiêu khả năng suy nghĩ và khả năng nhận thức của mình. Phổ biến phương châm sống: “ngu si hưởng thái bình”. Hệ quả là nền kinh tế tuột dốc, giáo dục thảm hại. Nền giáo dục, thay vì giáo dục lòng can đảm, phát triển tư duy, thì lại gieo rắc nỗi sợ hãi và làm thui chột khả năng suy nghĩ độc lập của học sinh sinh viên. Và khi có chuyện xảy ra, đa số không còn có thể phân tích tình hình, không biết phải làm gì. Trung Quốc không mong gì hơn điều này.

Trung Quốc hoàn toàn hiểu rằng người Việt Nam suy yếu là do sợ hãi. Nỗi sợ hãi của người dân Việt Nam là điều kiện cho việc Trung Quốc thôn tính đất nước này. Người dân Việt Nam có thể không sợ Trung Quốc, nhưng lại rất sợ chính quyền của mình, không dám đi ngược lại các phán quyết của chính quyền. Một số rất ít người, đếm trên đầu ngón tay, dám hy sinh, dám chịu nguy hiểm để biểu hiện lòng yêu nước thì bị chính quyền đàn áp, bắt bớ, bỏ tù. Điều này khiến toàn bộ dân chúng còn lại càng thêm sợ hãi. Nỗi sợ hãi làm họ tê liệt đến mức họ không còn muốn tìm hiểu vì sao biểu tình chống Trung Quốc chiếm các hải đảo của mình mà lại bị ngăn cấm và bắt bớ. Họ không muốn, không dám tìm hiểu và họ để mặc cho Trung Quốc muốn làm gì thì làm. Đó là những gì đã diễn ra sau những cuộc biểu tình năm 2007. Và triệt để hơn, người Việt Nam không muốn tìm hiểu về bất kỳ chuyện gì khác ngoài chuyện mưu sinh hàng ngày. Hoặc nếu có tìm hiểu thì cũng chỉ để bàn luận với nhau trong góc nhà, hay trong quán cà phê mà thôi, họ thụ động chấp nhận tất cả mọi thứ.

Trung Quốc cũng hiểu rõ rằng Việt Nam suy yếu là do những người có năng lực ở Việt Nam không được sử dụng, rằng nhiệt tình và năng lực, năng lượng của người Việt Nam đã bị tắt ngấm dưới làn sóng sợ hãi băng giá. Và chính quyền Việt Nam không tin ở công dân của họ. Mọi cố gắng phản biện nhằm gây dựng sự lớn mạnh cho quốc gia đều bị quy về tội chống phá nhà nước.
Vì thế Trung Quốc quyết định rằng đây là thời cơ ngàn vàng để thể hiện cho người láng giềng yếu kém Việt Nam thấy sức mạnh của mình. Và Trung Quốc đã chuẩn bị rất bài bản, rất cẩn thận cho quá trình thôn tính Việt Nam. Bắt đầu bằng sự thôn tính bộ phận: thuê hàng loạt rừng đầu nguồn ở những vị trí trọng yếu, nắm Tây Nguyên với cái cớ hợp pháp là khai thác bô xít, đầu tư nhiều công trình, nhiều cơ sở kinh doanh ở Việt Nam mà nhân công chủ yếu là người Trung Quốc. Thôn tính thị trường Việt Nam bằng hàng hóa Trung Quốc, và chủ yếu là hàng hóa chất lượng kém để đầu độc người Việt Nam, và với mục đích vô hiệu hóa nền sản xuất và kinh doanh của Việt Nam. Trung Quốc hiểu rằng hàng hóa không chỉ là hàng hóa, mà hàng hóa còn là văn hóa. Người Việt Nam hàng ngày dùng đồ Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng một cách từ từ nhưng sâu đậm bởi văn hóa Trung Quốc. Trung Quốc thôn tính truyền hình Việt Nam bằng vô số phim Trung Quốc, và đã thành công kinh khủng khi khiến cho thanh niên Việt Nam thuộc sử Trung Quốc hơn là sử Việt Nam. Đây quả là một tính toán mang tầm chiến lược và rất đáng nể phục: khi Trung Quốc thôn tính xong Việt Nam thì người Việt Nam không bị xa lạ với văn hóa Trung Quốc, sẽ cảm thấy Trung Quốc gần gũi với họ, gần gũi từ trong tâm thức.

Câu hỏi mà người Việt Nam phải đặt ra là: “Tại sao Trung Quốc lại thành công được như vậy?”. Nếu mỗi người Việt Nam đều đặt câu hỏi đó thì Trung Quốc có tài giỏi đến mấy cũng không thành công được. Nhưng người Việt Nam đã bị tê liệt khả năng đặt câu hỏi, tê liệt khả năng tìm hiểu và nhận thức.Vì người Việt Nam từ lâu đã bị cấm đặt câu hỏi, bị cấm tìm hiểu và bị cấm nhận thức về những gì bị cho là “nhạy cảm”, tự do ngôn luận và tự do báo chí bị bóp nghẹt. Vì người Việt Nam bị trừng phạt khi dám thử tìm hiểu, thử nhận thức. Than ôi, có cái gì mà không nhạy cảm đây? Người Việt Nam chỉ biết than mà không dám hành động. Trung Quốc biết rõ như vậy. Cơ hội đang thuộc về Trung Quốc.

Trung Quốc hiểu rằng, không có thời cơ nào tốt hơn hiện nay, khi chính quyền và người dân Việt Nam sợ hãi lẫn nhau (chính quyền sợ nhân dân và nhân dân sợ chính quyền), khi thông tin bị bưng bít, người dân thờ ơ với vận mệnh đất nước, lãnh đạo bằng mọi giá bảo vệ quyền lợi cá nhân, tình trạng chung là không chịu suy nghĩ, không chịu hành động, không chịu thay đổi.
Trung Quốc hiểu rằng nhân dân Việt Nam đang mất lòng tin vào chính phủ. Bởi những biểu hiện hèn nhược của chính phủ và sự kém cỏi của chính phủ trong việc giải quyết tất cả mọi vấn đề. Vì thế mà Trung Quốc dám vào tận lãnh hải Việt Nam để tuyên bố rằng người Việt Nam xâm phạm chủ quyền của mình, dám hùng hồn tuyên bố điều dối trá đó trên báo chí quốc tế. Trung Quốc tin rằng sẽ thực hiện được giấc mộng thôn tính Việt Nam. Nếu ngư dân Việt Nam bị bắn chết mà chưa bao giờ Trung Quốc bị trừng phạt, nếu những người Việt Nam tiếp tục bị Trung Quốc giết chết mà chẳng có ai dám làm gì Trung Quốc, thì tại sao Trung Quốc không lấn tới?

Nhưng có một điều mà Trung Quốc không hiểu, hay chưa hiểu: những người Việt Nam mà Trung Quốc tưởng là hèn hạ và chỉ biết sợ hãi ấy, những người đó sẽ cho Trung Quốc biết thế nào là người Việt Nam thực sự. Vì đây cũng là thời cơ để người dân Việt Nam nhận thức, hiểu rõ chính mình, hiểu rõ chính phủ của mình, hiểu rõ “ông bạn” láng giềng. Thời cơ để người dân Việt Nam lấy lại sức mạnh của mình. Trung Quốc cứ thử xem, người Việt Nam sẽ chứng minh rằng mảnh đất này chính là linh hồn của họ. Lịch sử cho thấy, đôi khi có chuyện vua quan Việt Nam bán nước, nhưng nhân dân Việt Nam chưa bao giờ chịu mất nước.


28/5/2011
N. V. L.