Wednesday, June 1, 2011

Loạn Nhà - Loạn Phố - Loạn Thủ Đô

image

BaoMai

Cậu lái taxi còn rất trẻ xin lỗi tôi vì nhầm đường, cứ tưởng Phố Vọng là Dịch Vọng, vì "y-em mới lái xe ra phố được một tuần".
Như hàng vạn người từ các vùng khác vào thủ đô kiếm việc, lăn lộn trên các con phố ngày càng chật và lộn xộn, anh taixi cũng khai luôn là mới có bằng lái, giá 10 triệu, nhưng cam đoan là "bằng thật".
Cậu ta lái tiếp một đoạn nữa rồi lại hỏi tôi muốn rẽ đường nào.
Tôi cũng lâu rồi chẳng còn là "người Hà Nội" nên chỉ còn nhớ hướng từ khu Thái Hà về nhà mình ở Phố Vọng, chứ không thể chỉ đường qua các ngõ ngách.
Và cả tôi và cậu lái xe quê Nam Định kia đều vô tội và không đáng trách.

image

Nhàm chán anh hùng

Bởi phố Hà Nội bây giờ loạn quá về tên, làm tăng thêm sự lộn xộn vì xây cất bừa bãi.
Lãnh đạo thủ đô và cấp cao hơn đã phạm một sai lầm nghiêm trọng khi chỉ đạo cho việc dùng một số tên danh nhân làm tên phố ở khắp mọi địa phương.
Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung ...quanh đi quẩn lại chỉ có vài chục vị anh hùng dân tộc nhưng tỉnh nào, huyện nào, phố nào cũng mang tên họ.
Với Hà Nội thì sự rối rắm đang tăng lên gấp hai, nếu không phải là gấp ba.
Có phố Trần Hưng Đạo ở Hà Nội gốc, nhưng cũng có phố đó ở cả Hà Đông, nay là một quận của Hà Nội.
Hai Bà Trưng, Trần Quốc Toản, Nguyễn Huệ và nhiều vị khác cũng là nạn nhân của chuyện nhân giống vô tội vạ tên phố, tên đường, trường học, cơ sở văn hóa, xã hội như vậy.
Và các địa danh Hà Tây cũ cùng "hòa nhập" vào Hà Nội mở rộng nên cán cân cung cầu giữa số đường phố ngày một nhiều ra, và số tên danh nhân bị lệch nghiêm trọng.
Như thế là đang có tới ba thứ Hà Nội.

image

Bên Anh Quốc cũng có nhiều phố và các quán bia mang tên nữ hoàng và vua chúa nhưng ít ra người ta còn có mã bưu điện để muốn tìm là được.
Còn ở Việt Nam bây giờ, đã vào thế kỷ 21 hơn 10 năm và máy vi tính nối mạng dùng khắp nơi rồi các địa chỉ vẫn chỉ là tên đường phố, ngõ, rồi đến ngách và số nhà, không hề có mã bưu điện.

image

Đó là sự lạc hậu về công nghệ.

Còn về mặt văn hóa, nhu cầu quá lớn khiến Hà Nội đã và đang đặt cả những cái tên chẳng mấy ai biết.
Lê Gia Đỉnh, một anh đại đội trưởng nào đó thời đánh Pháp cũng được đem ra đặt tên cho một con phố khiến một cuốn sách phải ghi rằng tên phố này "thường bị nhầm là Lê Gia Định".
Rồi đến mấy vị quan chức cách mạng cộng sản chẳng rõ thành tích là gì, và cũng chỉ vừa mới qua đời, đã được đem ra treo thành biển đường.
Và nhìn chung, tên của các nhân vật chiến tranh nhiều hơn danh nhân văn hóa, khoa học.
Điều này nói lên gì về sự lựa chọn đầy thiên vị của nhà nước nếu nhỡ có người nước ngoài tìm hiểu về Việt Nam?

image

Tại sao người ta lại chẳng thể dùng tên các loại hoa, các loại cây trái mà nước Việt Nam là xứ nhiệt đới vốn có vô vàn để gọi các con phố?
Làm như thế vừa tránh được tranh cãi về con người vừa tạo vẻ hiền hòa, thân thuộc và văn minh cho những con đường ở thủ đô.
Vẫn về tên tuổi và rộng hơn là danh phận thì các biển hàng và tên quán ở Hà Nội bây giờ khiến tôi nảy sinh vài suy nghĩ.

image

Thói quen ăn uống của họ, vị giác của họ vẫn được mời gọi bằng những cái tên quá như "Cơm lam Pắc-Bó, vịt cỏ Vân Đình", hay "Gà đồi, dê núi", "Heo Mán, lợn Mường".

image

Và tiệm "Lẩu Tứ Xuyên" nằm không xa tiệm "Bóp chân Tứ Xuyên" gợi ra một cái gì đó hãi hãi.
Sự sánh vai của biển hiệu "Thịt chó Anh Tú" với "Cơm chay Bồ Đề Tâm" khiến ta không khỏi băn khoăn về nhu cầu đa dạng của con người Việt Nam hiện đại.
Mấy nghìn năm lịch sử là thế này đây.
Nếu như nhà nước loạn nhịp khi đặt tên đường phố thì dân chúng cũng thả cửa đặt tên hàng quán.
Tự do là điều hay hơn trước nhiều rồi nhưng bừa bãi Tây-Ta-Tàu quá đáng cũng thành điều phản cảm.
Tôi nghĩ nếu có mở tiệm "Tiết canh Xít-ta-lin", hay "Thịt quay Hít-ne" (ngọng một nốt cho lạ) thì chắc cũng chẳng ai để ý mà phản đối.
Trong sự bề bộn, mạnh ai nấy chen, chèn và chạy ấy, đường phố Hà Nội dù có đèn xanh đèn đỏ và công an, là một môi trường có vẻ như là vô chủ.
Nhưng một số dân mạng đã biết lập bản đồ Google Map để đánh dấu những điểm có công an giao thông tại Hà Nội nhằm giúp cho người đi lại biết mà tránh.

Chẳng có gì xấu khi dùng tên địa phương để quảng bá món ăn vì ai mà không nhớ ô mai Hàng Đường, bánh tôm Cổ Ngư, giò chả Ước Lễ hay bánh cuốn Thanh Trì đã vào thơ ca.
Nhưng dù quê ngoại ở Hải Phòng, tôi không hiểu nổi biển hiệu "Bánh mì Hải Phòng" thì có gì đặc sắc hơn các loại bánh mì khác?

Người nhập cư ồ ạt, người có tiền, có quyền cũng như đông đảo dân hiện sinh hoạt tại thủ đô vẫn còn gốc nông dân nên biển hàng quán cũng thích hợp ở tính "thương nhớ đồng quê".


image

Tôi cũng nghe trên đài trong xe taxi tiếng báo nhau về đoạn đường nào hiện có công an. 
Đây là hiện tượng một xã hội dân sự tự vươn lên, tự tổ chức thành nhóm quyền lợi vì cái chung?
Hay đơn giản chỉ là việc người dân dùng phương tiện và công nghệ mới để tự vệ trước nạn ăn chặn của công an?
Nhưng giải pháp vô chính phủ kiểu này chỉ khiến con đường đến nhà nước pháp quyền ngày càng xa, và Hà Nội sẽ tiếp tục ách tắc trong hàng mớ vấn đề không ai dám làm chủ.


Nguyễn Giang


Cả triệu người sắp rơi vào 'hố nghèo' ở VN

image

Số hộ nghèo trong cả nước ở Việt Nam hiện nay lên tới 3 triệu hộ, tăng hơn một triệu hộ, ngay sau khi ngưỡng chuẩn nghèo điều chỉnh được công bố cho giai đoạn 2011 - 2015, theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.
Số liệu công bố tại một hội thảo về an sinh xã hội hôm 26 tháng Năm cho thấy số lượng hộ nghèo theo chuẩn cũ là gần hai triệu hộ tính đến 2010.
Mức chuẩn nghèo mới được điều chỉnh lên 400 nghìn VNĐ/người/tháng ở nông thôn và 500 nghìn VNĐ/người/tháng ở đô thị so với mức chuẩn nghèo cũ là 200 nghìn VNĐ/người/tháng ở nông thôn và 260 nghìn VNĐ/người/tháng ở đô thị.
Theo chuẩn mới nay cả nước có 3.044.566 hộ nghèo và số hộ cận nghèo là 1.612.181 hộ, báo Thời báo Kinh tế Việt Nam (VnEconomy) trích thuật lời của Phó cục trưởng Cục Bảo trợ Xã hội của MOLISA hôm 27 tháng Năm, ông Ngô Trường Thi, cho biết.

Tờ VnEconomy cũng dẫn lời của quan chức ngành lao động, thương binh, xã hội cho hay từ năm 2011, mức chuẩn nghèo sẽ được điều chỉnh hàng năm, tùy thuộc vào thực tế chi phí cho các nhu cầu tối thiểu của người dân "giúp cho con số hộ nghèo được phản ánh đúng thực tế và chính xác nhất."
Bình luận về việc công bố các số liệu mới về hộ nghèo và chuẩn nghèo, một chuyên gia từ Hội Khoa học Kinh tế VN không muốn tiết lộ danh tính nói với BBC rằng việc xác định các mức ngưỡng của chuẩn nghèo và bản thân việc điều chỉnh thời gian áp dụng các chuẩn nghèo theo cách làm 5 năm một lần là 'hết sức quan liêu.'

Chuyên gia cho rằng cách làm đó 'mang đậm tính chất quản lý thời kinh tế kế hoạch' vốn 'thiếu nhạy bén' với các biến chuyển thị trường và xã hội.
Thậm chí những người có thu nhập trung bình hay cận nghèo mà gặp phải các thảm họa như gia đình có người ốm đau, bệnh nặng, phải nằm viện hay các tai nạn v.v..., thì từ thu nhập trung bình hoặc cận nghèo có thể ngay lập tức rơi xuống hố nghèo
TS. Khuất Thu Hồng, Viện ISDS

"Xa thực tế"

"Chuẩn nghèo ở Việt Nam còn được xác định vừa xa với thực tế vừa không thống nhất giữa các cơ quan đánh giá và có sự khác biệt lớn so với chuẩn nghèo quốc tế áp dụng với Việt Nam," vẫn chuyên gia này nói.
Trước câu hỏi liệu việc điều chỉnh ngưỡng nghèo muộn màng này có ảnh hưởng hay không tới những đối tượng vốn không có mặt trong số liệu thống kê mà lẽ ra có thể được hưởng hỗ trợ từ chính sách xóa đói giảm nghèo của nhà nước, Tiến sỹ Khuất Thu Hồng, đồng Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội, ISDS, nói:
"Tất nhiên là có ảnh hưởng, thậm chí với mức lạm phát đã thấy, thì dù chỉ trong năm tháng, chứ chưa nói là năm năm, thì giá trị của đồng nội tệ cũng đã khác hẳn rồi,"
"Tuy nhiên việc nhận được bồi thường, bồi hoàn của các đối tượng đó là rất khó vì chính sách không thể thay đổi thường xuyên được.
"Trong khi đó, thậm chí những người có thu nhập trung bình hay cận nghèo mà gặp phải các thảm họa như gia đình có người ốm đau, bệnh nặng, phải nằm viện hay các tai nạn v.v..., thì từ thu nhập trung bình hoặc cận nghèo có thể ngay lập tức rơi xuống hố nghèo."
Chuyên gia của viện nghiên cứu độc lập này cũng cho rằng việc đánh giá, phân loại các chuẩn nghèo ở Việt Nam đối với cấp địa phương cũng hàm chứa yếu tố 'thành tích' chính trị trong đó.
Gần đây, một trong các tỉnh nằm ở Bắc Bộ Việt Nam, cách trung ương không xa là Thanh Hóa, đã bất ngờ loan tin có tới gần một phần tư triệu dân bị thiếu đói trầm trọng và phải sử dụng các loại hoa mầu độn để giải quyết nhu cầu thiếu ăn hàng ngày một cách bức thiết, theo truyền thông trong nước.

Vũng Tàu: Nghề Nuôi Hàu Lụn Bại Vì Ô Nhiễm Nước

image
Món hàu nướng rắc phô-mai.

VUNGTAU (VB) -- Vốn là một hòn đảo nhỏ thuộc vùng biển Vũng Tàu, xã Long Sơn là một nơi lý tưởng để nuôi hàu, nuôi cá bè do có vùng nước rộng hơn 100ha do các sông nước lợ như sông Rạng, sông Rạch Ván, sông Chà Và, sông Mũi Giui… đổ ra. 
Ba bốn năm trở lại đây, nghề nuôi hàu ở Long Sơn “chết” dần vì hàu trứng mới bám vào tôn, cọc đã chết vì nước sông bị ô nhiễm nặng bởi nước thải của hàng chục nhà máy chế biến hải sản ở địa phương lén lút xả ra.
Thậm chí ở một số bè cá mú trên sông chuẩn bị “xuất chuồng”, cá nặng gần 1kg mỗi con đều chết trắng bụng. Từ năm 2008 đến nay, sản lượng hàu nuôi của xã đã giảm tới 60-70% .
Do đó, ngay trên bè Đực Nhỏ, một “nhà hàng nổi” nổi tiếng trên sông Rạng, du khách ăn cái món tuyệt vời là hàu nướng rắc phô-mai hiện phải chịu giá 22,000 đồng/con, trong khi năm ngoài chỉ 15,000 đồng/con.
Ở quán Sơn Thủy trên bờ thì giá một kí hàu võ (khách lựa, cân rồi quán mới chế biến theo ý khách) hiện là 40,000 đồng, năm ngoái chỉ 20,000 – 25,000 đồng.
Hay khi mua thịt hàu sống (đã gở bỏ võ) để đem về nhà nấu cháo thì giá tại chỗ đã lên tới 200,000đồng/kg, cách đây 2 năm chỉ 100,000 đồng/kg.

Sài Gòn: Bọc Ghế Salon, Bọc Yên Xe Đủ Kiểu Đủ Hạng

image 
Nghề bọc nệm ghế salon, nệm yên xe thịnh hành.

SAIGON (VB) -- Tuy là thủ công, nhưng bọc nệm không có gì khó với các anh thợ Sài Gòn.
Hiện nay, về nhu cầu sửa chữa, tân trang ghế nệm sử dụng trong nhà, cơ quan - văn phòng, nhà hàng, khách sạn…, kể cả ghế trên ô tô, thì lúc nào cũng có nên những cơ sở làm dịch vụ này tha hồ kiếm ăn. 
Nguyên vật liệu bọc ghế cũng đa dạng, đủ hạng đủ kiểu, từ vải, bố, ximili cho tới da, nhung, gấm.
Các cơ sở còn cạnh tranh nhau bằng các “chiêu” bảo hành (có nơi nhận bảo hành đến 5 năm), vận chuyển miễn phí, tặng chất lau tẩy.v.v…
Ngoài ra, trước hàng triệu chiếc xe gắn máy lưu hành trong thành phố, hầu hết các tiệm bọc ghế salon còn nhận bọc yên xe và cung cấp tấm lót chân.
Vể dịch vụ này thì cũng đủ kiểu, đủ hạng. Như những bác xe ôm thì chỉ chọn những tiệm quen với những tấm ximili xoàng xỉnh chỉ 50,000 – 60,000 đồng, còn với dân xài xe tay ga cao cấp (như Air Blade, SH, PCX…) thì phải là những tấm bọc yên xịn, có giá đến 180,000 – 200,000 đồng.
Hay “chơi sang” hơn nữa là bọc thêm một lớp áo lưới chống nắng nóng, không ngậm nước mưa, thoáng và êm hơn, còn có thể chống trơn trượt đối với trẻ em và người già ngồi lên xe.
Tất nhiên là giá khá cao, như hàng chính hãng của Đài Loan thì từ  89,000 đến 199,000 đồng/cái.

Sài Gòn: Hàng Rong Đầy Khắp Trước Cổng Bệnh Viện

image
Hàng rong bám trụ vào cổng bệnh viện.

SAIGON (VB) -- Hàng rong là hình ảnh thường thấy tại Việt Nam, và đặc biệt, khi kinh tế càng lúc càng suy thoaí, hàng rong lại phải lấn vào sát biên các sân bệnh viện để kiếm sống.
Lâu nay, tại khu vực cổng ra vào các BV lớn ở Sài Gòn, như BV Chấn thương Chỉnh hình , Từ Dũ, Nhi đồng 2,Tai Mũi Họng.v.v… thường có đám hàng rong buôn bán xô bồ, bát nháo.
Gần đây, bên hông tường của BV Nhi đồng 2 đã giảm bớt cái cảnh nhếch nhác của những bếp than, chai lọ, xô chậu… của những người nấu nước sôi bán cho người bệnh.
Tuy vậy, một số người bán đồ chơi, quà bánh, báo chí… vẫn cố gắng “bám trụ” sát bên cổng vào bệnh viện.
Trời nắng gắt, không khí oi bức, mấy cháu bé cứ gào khóc, các bà mẹ vất vả vừa chen lấn vừa phải dỗ con.
Vậy là đám hàng rong ‘tốt bụng” thi nhau mời chào om xòm, nào là “Mua đồ chơi cho bé bớt khóc đi chị! ”, “Mua đậu cho nó ăn nè, dỗ nó mới nín chị ơi”, “Mua tờ báo che nắng đỡ cho nó đi nhe!”…
Những bà mẹ, ông bố cứ lúng ta lúng túng, trong khi chỉ cần đám bán hàng rong chịu khó nhường cho chỗ bóng mát mà họ đang chiếm cứ thì bọn trẻ con đã dễ chịu, ít quấy hơn nhiều.

Công dân Mỹ được lãnh Social Security tại Việt Nam

image

BaoMai


Các tấm ‘check’ trả tiền hưu trí cho công dân Hoa Kỳ. Nay họ có thể lãnh ‘check’ này tại Việt Nam.

Sở An Sinh Xã Hội (Social Security Administration, viết tắt là SSA) mới đây đã duyệt lại chính sách trả tiền hưu trí (social security benefits), xin đừng lộn với tiền trợ cấp SSI (tức Supplement Security Income, dành cho người cao niên và tàn tật).
Tiền hưu trí (SSB) dành cho người từ 62 tuổi trở lên và đã làm việc được 40 quarters trở lên.

image

Trước đây, Bộ Tài Chính Hoa Kỳ không cho phép sở SSA gửi tiền hưu cho công dân Hoa Kỳ nếu sống lâu dài tại một trong các nước Cuba, Cambodia và Việt Nam. Nghĩa là SSA sẽ giữ tiền hưu của họ và hoàn trả lại toàn bộ số tiền bị giữ lại đó khi đương sự trở về Mỹ hoặc tới một quốc gia không nằm trong danh sách bị Bộ Tài Chính yêu cầu phong tỏa.
Nay Bộ Tài Chính Hoa Kỳ đã rút Việt Nam và Cambodia ra khỏi danh sách 3 nước nói trên, nghĩa là nếu ở lại Việt Nam lâu dài thì có thể yêu cầu sở SSA gửi “check” tiền hưu của mình về một địa chỉ ở Việt Nam.

image

Nhưng cách nhận “check” an toàn nhất là yêu cầu SSA chuyển thẳng tiền hưu của mình vào trương mục (bank account) của mình. Có 3 ngân hàng Mỹ có chi nhánh ở Việt Nam là Citi Bank, US Far East National Bank và JP Morgan Chase Bank. Người nhận lương hưu có thể rút tiền ra từ các ngân hàng này tại Mỹ hoặc Việt Nam.
Trong khi đó người lĩnh tiền SSI (dành cho người cao niên và tàn tật), dù có quốc tịch Mỹ đi nữa, vẫn bị ràng buộc bởi luật không được tiền trợ cấp SSI trong thời gian ở ngoài Hoa Kỳ. Như thế nào bị coi là ở ngoài Hoa Kỳ?
Nếu không sống tại một trong 50 tiểu bang, hoặc thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, hay Puerto Rico, U.S. Virgin Island, Guam, Northern Mariana Islands, American Samoa 30 ngày trở lên là bị coi như ở ngoài nước Mỹ.
Do đó, nếu ai ra khỏi Mỹ quá 30 ngày trở lên là những ngày đó bị cắt tiền SSI, khi trở lại Mỹ phải sau 30 ngày mới được cấp SSI trở lại.

image

Sau đây là một số thắc mắc chung về tiền hưu trí (xin nhắc lại tiền hưu trí khác với SSI, như đã nói ở trên).

- Người có quốc tịch Mỹ sống ở nước ngoài Hoa Kỳ bao nhiêu lâu cũng được và không hề mất tiền hưu trí.

- Nếu người được hưởng tiền trợ cấp vì là người góa chồng/góa vợ hay con vị thành niên của người thụ hưởng tiền hưu trí, mà không có quốc tịch Mỹ, thì phải sống ở Mỹ từ 5 năm trở lên thì tiền hưu trí “ăn theo” mới không bị cắt trong thời gian sống ở ngoài nước Mỹ.

- Khi sống ở nước ngoài phải báo cho SSA (bằng điện thoại, thư) hoặc cho sứ quán Mỹ, nếu: thay đổi địa chỉ; làm việc ở nước ngoài; kết hôn; ly dị; nhận con nuôi; con không sống với bố, mẹ; con vị thành niên sắp đủ 18 tuổi vẫn còn đi học hay trở thành tàn tật; qua đời.
Nếu hưởng tiền hưu theo chồng/vợ thì khi ly dị phải báo cho SSA biết. Ðiều đó không có nghĩa là mình sẽ bị mất tiền hưu “ăn theo vợ/chồng.”
Nếu ở 62 tuổi trở lên và hôn thú đã được 10 năm trở lên và không lập gia đình mới thi dù có ly dị vẫn không mất tiền hưu (ăn theo vợ/chồng).
Nếu lãnh tiền hưu theo vợ/chồng khi đủ tuổi hưu toàn phần thì tiền hưu ăn theo được 50% tiền hưu của người phối ngẫu. Tuổi hưu toàn phần là 65 nếu sinh từ 1937 trở về trước. Nếu sinh từ 1938 trở về sau thì tuổi hưu toàn phần là 65+2 tháng cho mỗi năm sau đó. Nếu lấy tiền hưu khi 65 tuổi (nếu tuổi hưu toàn phần là 66 tuổi) thì chỉ được 46%, 64 tuổi : 42%; 63 tuổi 37,5% và 62 tuổi chỉ được 35%.

image

- Tiền trợ cấp cho con vị thành niên của người hưởng tiền hưu sẽ bị cắt khi đứa nhỏ đủ 18 tuổi ngoại trừ trường hợp nó vẫn còn độc thân và còn đi học toàn thời gian ở trường tiểu học hoặc trung học, hoặc bị tàn tật.

- Công dân Hoa Kỳ hoặc thường trú nhân thì có thể 85% tiền hưu trí bị đánh thuế. Nếu tổng số lợi tức cá nhân từ $25,000 tới $34,000 thì 50% tiền hưu của mình sẽ phải đóng thuế, trên $34,000 thì 85% tiền hưu bị đánh thuế. Nếu vợ chồng khai thuế chung, nếu tổng số lợi tức của hai vợ chồng từ $32,000 đến $44,000 thì 50% tiền hưu bị đánh thuế, trên $44,000 thì 85% tiền hưu bị đánh thuế.

- Tiền hưu tối đa của năm 2010 là bao nhiêu? Nếu quý độc giả đã 66 tuổi và lĩnh tiền hưu năm 2010 thì tiền hưu tối đa của bạn là $2,346/tháng nếu sau khi 21 tuổi năm nào cũng đóng FICA tối đa. Tiền FICA tối đa của năm 2010 là $106.800. (có nghĩa là cho dù bạn có lợi tức cả bạc triệu một năm thì bạn cũng chỉ đóng FICA cho $106.800 đầu của bạn thôi, số tiền sau $106.800 không bị đóng FICA.)

Hà Ngọc Cư

Trật tự dưới sức ép

image

BaoMai

Hòa bình và hợp tác đã mang lại tăng trưởng kinh tế, và sự tăng trưởng này giờ đây đang hủy hoại các nền tảng của trật tự tạo ra nó.
Tại châu Á ngày nay, lực lượng chính tạo ra thay đổi trong trật tự quốc tế là tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc. Sức nặng kinh tế của Trung Quốc trên thế giới đã thay đổi đáng kể từ năm 1972, khi Nixon đến Bắc Kinh và các nền tảng của trật tự hậu chiến tranh Việt Nam ở châu Á được tạo ra, không chỉ là trong so sánh GDP, mà còn ở quy chế nước chủ nợ của Trung Quốc và tầm quan trọng của nền kinh tế nước này trong vai trò là một động lực cho tăng trưởng toàn cầu. Nếu Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng mạnh, sự thay đổi trong tương quan quyền lực sẽ hủy hoại trật tự hậu chiến tranh Việt Nam.

Nhằm duy trì hòa bình, một trật tự mới sẽ cần được tạo ra, phản ánh tương quan quyền lực mới, và thích nghi tốt với lợi ích cốt lõi và những mối quan tâm chính của các cường quốc chính. Nếu điều đó không xảy ra, không có lý do gì để hy vọng là hòa bình sẽ được gìn giữ.

Những người theo thuyết thực tế của trường phái Mearsheimer tin vào định mệnh lịch sử, rằng tất cả các cường quốc lớn đang nổi đã tạo ra các cuộc chiến tranh cơ học khi thách thức của họ đối với trật tự hiện nay vấp phải sự chống cự của các cường quốc được xác minh. Như vậy theo quan điểm này, cuộc chiến giữa Mỹ và Trung Quốc là không tránh khỏi.

image

Quan điểm này có vẻ quá bi quan. Tất cả các nước lớn ở châu Á, kể cả Mỹ và Trung Quốc, đều có lợi trong việc gìn giữ hòa bình, vì hòa bình rất quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu hóa. Nhưng chúng ta phải thận trọng để không mắc lỗi ngược lại, là tin rằng sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế và giải thoát khỏi tính tư lợi sẽ ngăn cản nguy cơ xảy ra chiến tranh. Trong hơn 200 năm qua, ảo tưởng dễ chịu này đã đánh lạc hướng mọi người vào ý nghĩ là không cần điều chỉnh chính sách để ngăn chặn chiến tranh.

Trọng tâm của vấn đề là sự song tồn, bất ngờ nhưng không thể phủ nhận, của chủ nghĩa dân tộc và toàn cầu hóa. Về lý thuyết, việc sáp nhập dân tộc trở nên kém quan trọng khi toàn cầu hóa thay đổi cuộc sống người dân, và các nhà nước mất quyền lực và tầm ảnh hưởng và không còn hành xử như trước đây. Trên thực tế, điều ngược lại đã xảy ra: những nước như Trung Quốc và Ấn Độ đã tăng trưởng mạnh hơn nhờ toàn cầu hóa, họ đã hành xử như các quốc gia truyền thống, và khi người dân trên thế giới kết nối với nhau nhiều hơn, họ càng gắn bó với quốc tịch của mình hơn. Thay vì làm biến mất quốc gia-dân tộc, toàn cầu hóa dường như dẫn tới một thế giới gồm một số lớn các nhà nước hùng mạnh hơn bất cứ lúc nào trước đây.

image

Chắc chắn điều này đang xảy ra tại châu Á, và không chỉ vì Trung Quốc. Ấn Độ, Nhật Bản, và trong tương lai là cả Nga, Triều Tiên và Indonesia, có thể đều đưa ra đòi hỏi quy chế cường quốc chính trong những thập kỷ tới. Trên thực tế, chúng ta dường như hướng tới kiểu trật tự đa cực ở châu Á mà một số người tiên đoán trong những năm 1960. Điều đó đã không xảy ra khi đó, và một số người có thể hỏi tại sao bây giờ nó lại xảy ra. Trong những năm 1960, tương quan quyền lực đã thay đổi ít hơn so với ngày nay, và đặc biệt sức mạnh kinh tế tương đối đã thay đổi ít hơn ngày nay (và có thể tiếp tục như vậy trong những thập kỷ tới).
Các mô hình cho một trật tự mới

Vậy hệ thống quốc tế nào có thể thay thế trật tự hậu chiến tranh Việt Nam theo hướng ngày càng đa cực hóa châu Á? Các mô hình không có nhiều (thế giới đã chứng kiến tương đối ít ví dụ về các hệ thống quốc tế bao gồm một số quốc gia-dân tộc hùng mạnh), và những mô hình tồn tại hiện nay có từ trong lịch sử châu Âu.

Thật không khôn ngoan khi đưa ra tiền lệ châu Âu cho các vấn đề của châu Á, nhưng dường như không có cách nào tốt để đặt ra các câu hỏi về tương lai châu Á hơn là dưới dạng quá khứ của châu Âu. Cách này đã được áp dụng nhiều lần trước đây (nổi tiếng nhất là Aaron Friedberg trong cuốn tiểu luận Liệu quá khứ của châu Âu sẽ là tương lai châu Á?).

Nhưng các phân tích như thế thường giới hạn ở một trong nhiều quá khứ của châu Âu trong khi có ít nhất 4 mô hình trong lịch sử châu Âu có thể dành cho tương lai châu Á.

image

Thứ nhất, đó là mô hình Đế chế La Mã từ thế kỷ đầu tiên của Giáo hội Anh. Đây dường như là mô hình mà Washington chọn lựa. Gần đây người ta viết nhiều về so sánh nước Mỹ hiện đại với La Mã thời hoàng kim. Hầu hết đều không nói nghiêm túc, nhưng ý tưởng cho rằng Mỹ có thể duy trì mãi mãi - hoặc ít nhất trong những thập kỷ tới - vai trò bá chủ của mình ở châu Á đã khắc sâu trong suy nghĩ của chính giới Mỹ.

Vả lại ý tưởng này không phải là không nhận được sự ủng hộ ở Tây Thái Bình Dương: nhiều người ở Nhật Bản, Đông Nam Á và Australia chắc chắn sẽ thấy đây là một mô hình hấp dẫn cho tương lai châu Á, hoặc ít nhất là mô hình được ưa chuộng hơn để có thể thay thế hiện trạng. Nhưng liệu nó có đáng tin? Mô hình này giả định rằng trật tự châu Á sẽ không thay đổi theo hướng sức mạnh của Trung Quốc và các nước châu Á khác đang dần đuổi kịp Mỹ.

Ngược lại, nền kinh tế Trung Quốc sẽ vì một lý do nào đó duy trì ở mức nhỏ hơn nhiều so với kinh tế Mỹ, hoặc Trung Quốc phải chấp nhận vai trò lãnh đạo chiến lược và chính trị của Mỹ ngay cả khi sức mạnh kinh tế và thậm chí cả quân sự của họ đuổi kịp và vượt của Mỹ. Khả năng này không phải là không thể xảy ra, nhưng sẽ là khó thành công, vì thế sẽ là một nền tảng không chắc chắn cho chính sách tương lai.

image

Mô hình thứ hai cho tương lai châu Á đến từ thế kỷ 21 của châu Âu, dưới dạng trật tự hậu-quốc gia, hậu-chiến lược và hội nhập sâu sắc của mô hình Liên minh châu Âu, trong đó việc sử dụng vũ lực trong các vấn đề quốc tế dường như bị cấm đối cả với những kẻ thù truyền kiếp. Chúng ta có thể hy vọng rằng đây là tương lai của châu Á, nhưng đó là một tương lai xa.

Kinh nghiệm của châu Âu cho thấy việc xây dựng một trật tự hậu-chiến lược đòi hỏi một truyền thống hợp tác chính trị lâu dài để chứng tỏ cái gì là có thể, cần một lịch sử gần đây xung đột gay gắt để chứng tỏ cái gì cần tránh, và cần sự hiện diện của một mối đe dọa tiềm tàng để thúc đẩy thỏa hiệp và hợp tác. Chỉ khi hội tụ tất cả các điều kiện trên Pháp và Đức mới phối hợp cùng nhau trong những thập kỷ qua. Không ai có thể đảm bảo rằng Nhật Bản và Trung Quốc sẽ có thể làm điều tương tự trong thời gian trước mắt.

image

Mô hình thứ ba là châu Âu của thế kỷ 19: châu Âu của sự phối hợp quyền lực. Động lực cho sự phối hợp này là sự tồn tại từ năm 1815-1914 của một trật tự được hình thành từ việc thiết lập quan hệ giữa các nước lớn, dù thường cạnh tranh quyết liệt nhưng vẫn hiểu rõ các giới hạn của sự cạnh tranh này. Những nhận thức này bao gồm sự tôn trọng tính hợp pháp của các thể chế chính trị, các lợi ích quốc gia và các lực lượng quân đội của tất cả các cường quốc chính khác, và sự thừa nhận tầm quan trọng của việc tránh một cuộc chiến tranh tổng lực giữa họ. Đối với những người sống trong đó, sự phối hợp này chắc chắn ít hòa bình hơn trước, nhưng vẫn là một thành quả lớn mà nhờ đó sức mạnh kinh tế, vị thế trên toàn cầu và các thể chế chính trị và an sinh xã hội của châu Âu đều đã tăng lên đáng kể.

Cuối cùng, mô hình thứ tư là hệ thống cân bằng quyền lực đã định hình các vấn đề chiến lược của châu Âu trong đa phần chiều dài lịch sử hiện đại của họ, trong suốt các thế kỷ 16, 17, 18 và 20. Hệ thống cân bằng quyền lực này hiệu quả trong việc duy trì các lợi ích của đa số quốc gia trong đó, bằng việc ngăn cản một nước đơn lẻ nắm quyền bá chủ; khi được quản lý tốt, hệ thống này có thể giúp duy trì hòa bình, nhưng với cái giá là cuộc cạnh tranh chiến lược liên tục và một số cuộc chiến tranh cơ học thường thảm khốc, nhất là xảy ra giữa các cường quốc hạt nhân. Lịch sử châu Âu cho thấy đây là sự mặc định cho một trật tự đa cực - chính là trật tự mà chúng ta nhiều khả năng sẽ chứng kiến ở châu Á sau khi trật tự thời hậu chiến tranh Việt Nam sụp đổ. Nếu chúng ta đi theo chiều hướng này, một trật tự đang nổi lên trong đó một cuộc chiến tranh lớn là hoàn toàn có thể xảy ra./.

Châu Giang trích từ cuốn "Why War in Asia Remains Thinkable" của tác giả Hugh White, do Nhà xuất bản Survival phát hành.


Nguyên tác : HUGH WHITE
Dịch giả : Châu Giang

Đại dịch "Giả và Dỏm"

image

BaoMai


Nhật ký của Ngọc - Entry này có một tựa đề hơi bí hiểm. Nhưng những ai làm trong nghề y đều biết đó là viết tắt của Phó giáo sư – Tiến sĩ – Bác sĩ. Chỉ có ở nước Nam. Chỉ có ở nước Nam dưới thời XHCN. Nó là biểu hiện của căn bệnh mới phát sinh trong ngành y. Đó là bệnh hám danh. Bệnh hám danh đang làm tan nát hệ thống y khoa và đang biến hóa thành một đại dịch nguy hiểm cho người bệnh.


Có mấy ai còn nhớ đến thầy Phạm Biểu Tâm, thầy Trần Ngọc Ninh? Thầy Phạm Biểu Tâm có sống lại bây giờ không thể là hiệu trưởng trường y. Thầy Trần Ngọc Ninh có ở Việt Nam giờ này cũng không bao giờ thành khoa trưởng, chứ nói gì đến chức danh giáo sư. Cả hai thầy đều không có bằng tiến sĩ. Cái bằng tiến sĩ ngày nay ở đất nước này là một cái bùa hộ mệnh. Nó cũng là cái vé xe cho những chuyến xe đò thăng quan tiến chức. Nó là cái boarding pass cho những phi vụ làm trưởng khoa, làm hiệu trưởng trường y. Đó là luật chơi mới do những người cách mạng đặt ra. Người cách mạng không nhất thiết phải là người trong y giới, cũng chẳng cần làm khoa học. Ở đất nước này, chính trị thống lĩnh tất cả. Làm cách mạng là làm chính trị. Bởi vậy, người cách mạng chẳng cần phải có tấm bằng bác sĩ để đặt ra luật chơi mới cho ngành y. Họ đang hủy hoại nền y học.

Tuần rồi đi dự một hội thảo chuyên đề và gặp một anh bạn đồng môn trên bàn cà phê. “Ủa, ông chưa tiến sĩ hả? Sao không làm một cái”? Anh bạn tôi hỏi. Tôi ngạc nhiên về chuyện làm một cái. Tiến sĩ là một cái gì như đồ chơi. Tôi lắc đầu. Mình đã già. Mình không có khả năng làm nghiên cứu. Cũng chẳng có thầy đỡ đầu. Anh bạn tôi cười lớn nói: Ông mà già gì, đâu cần khả năng làm nghiên cứu, cũng không cần thầy hướng dẫn, chỉ cần bỏ tiền ra mua thôi. Tôi cám ơn tấm lòng của bạn cũ và vẫn thấy mình vui với việc giúp người mà không có những râu ria trước tên mình. Bạn cũ tôi bây giờ là một PGS-TS-BS.

image

TS-BS bây giờ nhan nhản trong các bệnh viện. Thử dạo một vòng các phòng trong bệnh viện ngoài Hà Nội, sẽ thấy trước cửa phòng ai cũng có danh xưng TS-BS in ngay chính giữa cửa phòng. Bảng hiệu đó cho chúng ta biết người đang ngự trị hoặc chiếm lĩnh căn phòng là một bác sĩ và có bằng tiến sĩ. Bằng tiến sĩ là học vị cao nhất trong thế giới khoa bảng. Tôi không có con số thống kê để nói, nhưng tôi cảm thấy số bác sĩ có danh hiệu TS-BS nhiều hơn bác sĩ trong các bệnh viện Hà Nội. Sài Gòn đang đuổi theo Hà Nội, sắp đến đích nay mai. Với đà này, một ngày không xa bệnh nhân sẽ không còn gặp bác sĩ nữa, họ chỉ gặp TS-BS.


PGS-TS-BS xuất hiện ngày càng dày đặt trong các hội thảo. Nhìn lên bàn chủ tọa chúng ta thấy gì? Có hoa tươi. Có chai nước lọc. Có laptop. Có microphone. Và, có tấm bảng nền trắng chữ đen in những từ viết tắt như PGS-TS-BS. Hoa tươi để làm màu mè. Chai nước lọc vì trí thức không quen uống nước máy sợ nhiễm khuẩn. Laptop để nói rằng ta đây có trình độ IT. Microphone để truyền bá lời vàng ý ngọc. Danh hiệu PGS-TS-BS để khoe thành tựu miệt mài làm khoa học. Một bức tranh đầy hoa sắc, màu mè. Có phần phần cứng (IT, microphone) lẫn phần mềm (hoa, trí lực, bằng cấp).


Danh và thực lúc nào cũng là hai khía cạnh nhức nhối trong y giới. Bao nhiêu tiến sĩ của nước ta là do thực tài, bao nhiêu là giả, dỏm. Không ai biết được, nhưng xã hội biết. Xã hội đã từ lâu phong danh tước “tiến sĩ giấy” cho những kẻ bất tài, hám danh, mua quan bán tước. Cụm từ “Tiến sĩ giấy” ngày càng xuất hiện nhiều trên báo chí, trong những câu chuyện thường ngày. Tức là xã hội biết rằng ngày nay chúng ta có nhiều tiến sĩ dỏm hơn là tiến sĩ thực.


Dỏm có nghĩa là những bằng cấp được mua bán, tiền trao cháo múc.


image

Anh bạn tôi vừa đề cập trên đây không ngần ngại nói rằng để có cái bằng tiến sĩ, anh phải chi ra nhiều tiền. Hỏi bao nhiêu, anh chỉ cười. Nhưng xã hội biết. Những cái giá 5.000 USD, 10.000 USD, 20.000 USD đã được đề cập đến. 100 triệu đồng. 200 trăm triệu đồng. 400 triệu đồng. Có khi 500 triệu. Có nhiều lò sản xuất văn bằng tiến sĩ và mỗi lò có biểu giá riêng. Quân y nổi tiếng là một trong những lò đào tạo đắt tiền. Các trường y thì rẻ hơn nhưng không rẻ bao nhiêu. Nhiều đồng nghiệp tôi mua bằng như thế. Đó là những con số chóng mặt cho bệnh nhân nghèo. Ai trả tiền? Xin thưa không phải bác sĩ, mà là bệnh nhân. Họ sẽ ăn tiền các hãng dược. Hãng dược nâng giá thuốc. Bệnh nhân là người cuối cùng trong vòng tròn này. Bệnh nhân lãnh đủ. Vì thế, mua bán bằng cấp là một trong những yếu tố làm cho giá thuốc cao đến mức “cắt cổ” như ở nước ta.

Những kẻ hám danh và bất tài xem chuyện mua bằng tiến sĩ là một đầu tư.

image

Họ có thể chi ra vài trăm triệu hôm nay, nhưng nay mai thì sẽ được chức quyền. Trường khoa. Giám đốc bệnh viện. Hiệu trưởng. Tất cả đều mua, đều chạy. Một khi đã ngồi vào vị trí quyền lực, họ ra sức vơ vét tiền của người dân để trả lại chi phí mua bằng, mua chức vụ. Người dân cũng chính là đối tượng sau cùng trong đường dây này. Đừng trách tại sao dân mình nghèo vẫn hoàn nghèo. Cái cơ chế này làm cho họ nghèo. Đã nghèo thì thường chịu phận hèn. Cái cơ chế này làm cho người dân vừa nghèo và vừa hèn.

Dỏm có nghĩa là làm nghiên cứu ma, giả tạo số liệu.

Báo chí đã nêu nhiều vấn đề đạo văn. Nhưng báo chí không hề biết những chuyện động trời hơn đạo văn. Đó là chuyện giả tạo số liệu. Những tiến sĩ dỏm chẳng bao giờ làm nghiên cứu cho tốn công. Họ chỉ ngồi đâu đó giả tạo ra số liệu. Có người làm nghiên cứu nghiêm túc, nhưng khi kết quả không đúng ý, họ sửa số liệu. Chẳng ai hay biết. Thầy cô hướng dẫn chỉ là những người mù vì bất tài, hoặc giả mù vì họ đã ăn tiền. Giả tạo số liệu xong, họ mướn một người nào đó làm phân tích thống kê. Giá phân tích cũng không rẻ chút nào, từ 500 USD đến 2000 USD. Có cậu nọ nay làm chức cao trong trường y từng làm phân tích mướn như thế. Chẳng cần biết đúng sai vì chính người làm mướn cũng mù mờ mà cũng chẳng quan tâm. Phân tích xong, họ mướn người viết luận án. Giá viết cũng từ 500 USD đến 2000 USD. Người viết chỉ cần có bằng cử nhân cũng viết được. “Viết” ở đây có nghĩa là cắt và dán. Hỏi google, dịch, cắt, dán. Vâng, luận án là dịch-cắt-dán. Thế là xong luận án. Thầy dỏm thì làm sao biết được đó là luận án thật hay dỏm. Có thể nói rằng đại đa số những nghiên cứu khoa học ở nước ta hiện nay đều làm theo quy trình như thế. Không có đạo đức khoa học. Không có tinh thần khoa học. Đừng nói đến văn hóa khoa học. Đọc những lời tâm huyết có khi mang tính hô hào của Gs Tuấn về nghiên cứu khoa học mà tôi thấy tội nghiệp cho ông. Ông đâu biết rằng ở trong nước người ta đâu có quan tâm đến nghiên cứu, những lời ông nói ra chỉ là nước đổ đầu vị mà thôi, chẳng ai nghe đâu.
Dỏm có nghĩa là làm nghiên cứu chất lượng còn thấp hơn luận văn cử nhân của các thầy trước 1975.


image

Nếu có dịp đọc những luận án tiến sĩ của các bác sĩ, người có kiến thức không biết nên cười hay nên khóc. Cười vì những đề tài nghiên cứu như là đề tài của sinh viên học làm nghiên cứu. Khóc vì trình độ thấp đến mức thê thảm. Những đề tài nghiên cứu kinh điển mà thế giới đã làm từ ngày tôi còn ngồi trong trường y cũng được biến hóa thành đề tài tiến sĩ. Có đề tài đánh giá phẫu thuật nội soi mà người đánh giá cũng chính là người thực hiện. Không có cái gì là mới. Không có cái gì để gọi là khoa học. Số liệu đã giả thì làm sao có kết quả thật được.
Còn luận án thì thế nào? Cũng công thức nhập đề – thân bài – kết luận như ai. Nhưng đọc kỹ thì không khỏi phì cười. Phần nhập đề thí sinh hay nói đúng hơn là người viết mướn tha hồ dịch-cắt-dán từ các nguồn trên internet, có khi đem cả kiến thức từ sách giáo khoa thế kỷ 19, những mớ thông tin chẳng liên quan gì đến đề tài. Dân gia có câu “nói dai, nói dài, nói dở” thật là thích hợp cho luận án tiến sĩ. Phần phương pháp thì chẳng có gì để đọc, vì họ chủ yếu là ngụy tạo. Ngụy tạo số liệu thì làm sao dám viết chi tiết phương pháp được. Vả lại, người viết mướn cũng đâu có trình độ chuyên môn để đi chuyên sâu vào phương pháp.

image

Đến phần kết quả là khôi hài nhất. Một chuỗi bảng số liệu. Một chuỗi đồ thị. Điều khôi hài là đồ thị làm từ bảng số liệu. Hai cách trình bày một thông tin! Chưa hết, thí sinh còn bồi thêm câu diễn giải dưới bảng số hay đồ thị. Tức là 3 cách trình bày chỉ nói lên một thông tin. Người ta cần số trang sao cho đủ nên phải làm như thế. Thừa thải? Không thành vấn đề. Vấn đề là làm cho đủ số trang theo quy định của Bộ. Sai sót? Đây đâu phải là công trình khoa học mà quan tâm đến sai sót. Đến phần bàn luận là một tràng từ ngữ bay múa, những ý tưởng hỗn độn, chẳng đâu vào đâu. Những gì Gs Tuấn chỉ cách viết bài báo khoa học không áp dụng ở đây. Không cần đến logic luận. Nó y như là cái thùng lẩu thập cẩm. Có lẽ vài bạn đọc chưa quen sẽ nói tôi cường điệu hóa vấn đề. Các bạn hãy vào thư viện trường y mà đọc xem các luận án tiến sĩ có xứng đáng cái danh xưng cao quý đó hay không. Người ta xem đó là những “luận án tiến sĩ” có mã số, có bìa đỏ, được lưu giữ cẩn thận. Nhưng tôi xem đó là những chứng cứ hùng hồn nhất cho một thời đại nhiễu nhương trong học thuật. Những kẻ đã, đang và sẽ có bằng tiến sĩ từ những cách học dỏm đó sẽ đi vào lịch sử nước nhà như là những tiến sĩ giấy, những con vi khuẩn làm ô uế nền học thuật nước nhà.

Dỏm có nghĩa là người thầy hướng dẫn cũng dỏm.

image

Sự suy thoái của giáo dục y khoa là một chu kỳ bắt đầu từ người thầy. Sự suy đồi của người thầy bắt đầu từ những ông quan cách mạng. Dưới mắt của quan cách mạng, hồng quan trọng hơn chuyên, đảng viên quan trọng hơn người ngoài đảng. Vì thế chúng ta không ngạc nhiên sau 1975 có những vị mang danh “giáo sư” mà kiến thức còn thua cả bác sĩ gia đình, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy có “giáo sư” đi tuyên truyền cho xuyên tâm liên trị bá bệnh, bo bo bổ dưỡng hơn gạo. Ngày nay, kẻ bất tài nhưng có đảng tịch thì vẫn được cất nhắc làm thầy, được “tạo điều kiện” làm tiến sĩ. Có người được “cơ cấu” (một danh từ mới) chức trưởng khoa, giám đốc bệnh viện rồi, “tổ chức” (cũng là một từ mới) sẽ tìm cho họ cái bằng tiến sĩ.  Bằn tiếng sĩ vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh trong cái nền học thuật nhếch nhác hiện nay. Bằng tiến sĩ nó tầm thường đến nỗi người ta nhạo báng ra đường gặp tiến sĩ. Nó rẻ tiền vì chúng ta biết rằng bằng tiến sĩ của Việt Nam chỉ là bằng dỏm, không bao giờ xứng đáng với danh vị đó. Thế là chúng ta có thầy dỏm. Thầy dỏm đào tạo ra trò dỏm. Trò dỏm đào tạo tiếp trò dỏm. Sẽ không lâu chúng ta sẽ có nhiều thế hệ tiến sĩ dỏm, giáo sư dỏm. Và chúng ta sẽ phải trả giá cho những cái dỏm đó. Thực ra, bệnh nhâm đang trả giá cho cái dỏm.

image

Cái giá mà bệnh nhân phải trả cho hệ thống y khoa hám danh này là cái chết. Nhiệm vụ của người bác sĩ lâm sàng trước hết là chữa trị bệnh nhân. Nhiệm vụ đó đòi hỏi kỹ năng lâm sàng tốt. Ngoài ra, còn có sự cảm thông, chia sẻ với bệnh nhân. Nhưng bác sĩ hám danh ngày nay chỉ chạy theo bằng cấp dỏm, làm nghiên cứu dỏm, gây tác hại cho bệnh nhân. Họ không trao dồi kỹ năng lâm sàng. Họ không có thì giờ để đọc sách. Họ thừa thì giờ đi nhậu để làm “ngoại giao”. Thiếu kiến thức lâm sàng. Chẩn đoán sai. Làm xét nghiệm không cần thiết. Đối diện với bệnh nhân thì chỉ hách dịch ra lệnh chứ không biết nói. Hậu quả là chẩn đoán sai, điều trị sai, bệnh nhân chết. Nếu còn sống thì gặp biến chứng, hoặc thương tật suốt đời. Dỏm trong các ngành khác như khoa học xã hội thì có thể không gây tác hại nguy hiểm, nhưng dỏm trong y khoa thì hậu quả khôn lường. Rất tiếc là các quan cách mạng không nhìn thấy hay không nhìn thấy điều hiển nhiên đó để cho sự hám danh và dỏm lên ngôi. Họ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử nước nhà.

Bệnh hám danh trong y giới ngày nay đã trở thành đại dịch.

Có lần trong một hội thảo chuyên môn, một anh kia tên là D, học y trước 1975 nhưng ra trường sau 1975, thuộc thành phần răng đen mã tấu – “cách mạng 75″ như người Sài Gòn vẫn nói, được người ta giới thiệu anh ta là TS, nhưng khi anh ta lên bục giảng câu đầu tiên anh ta nói là chỉnh người giới thiệu, rằng chức danh của anh ta bây giờ là PGS. Chính xác hơn là PGS-TS-BS. Cả hội trường có phần sững sờ trước sự khoe khoang hợm hĩnh. Tôi cũng ngạc nhiên khi biết anh ta có bằng tiến sĩ và càng sững sờ khi biết anh ta là PGS. Hỏi đồng nghiệp làm cùng bệnh viện với anh ta, ai cũng cười. Đã có nhiều bệnh nhân thành nạn nhân của anh ta. Thế là biết. Tất cả chỉ là mua bán. Thế mới biết cái cơ chế có khả năng nhào nặn một con người có tư cách thành một kẻ háu danh hợm hĩnh. Và chỉ trong một thời gian ngắn. Nhưng trường hợp của anh D chỉ là một hạt cát trong sa mạc y giới. Ngày nay có hàng chục ngàn người như thế. Nó đã thành một đại dịch. Dịch hám danh. Dịch hám bằng cấp. Đại dịch hám danh và hám bằng cấp còn nguy hiểm đến bệnh nhân hơn các đại dịch H1N1 nhiều.

image

Đại dịch hám danh không chỉ trong y giới mà còn lan tràn ra các địa hạt khác ngoài xã hội. Ai cũng cố gắng tạo cho mình một cái danh xưng trước tên. Ngày nào xã hội biết đến bác sĩ, kỹ sư, tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư … nhưng ngày nay người ta còn gắn CN và Master trước tên mình. CN là cử nhân. Master là cao học. Chưa bao giờ tôi thấy một sự háu danh quái đản như hiện nay. Trong y giới, người ta còn gắn thêm TS-BS, hoặc PGS-TS-BS. Nếu có danh xưng gì khác như thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú, người ta cũng gắn vào luôn. Nếu một người nông dân không có bằng cử nhân thì họ được gọi là gì. Không là gì cả. Do đó, đại dịch dịch hám danh nó phân chia xã hội thành những người có và những người không có. Nó dẫn đến nạn kỳ thị. Kẻ có danh xem thường người không có danh. Vì thế người ta phải chạy theo danh, phải mua danh bán tước. Đại dịch hám danh tạo ra một thị trường mua bán tước danh, bằng cấp. Từ cấp trung ương đến địa phương, hiện tượng mua bán bằng cấp xảy ra hàng ngày. Mua bán tước danh và bằng cấp là hành động xem thường kỷ cương phép tắt trong học thuật. Vì thế dịch hám danh không chỉ làm phân hóa, kỳ thị xã hội, mà còn làm hủy hoại nền học thuật quốc gia.

Sau khi gặp bạn tôi gặp trong hội thảo tuần qua làm tôi có cảm hứng viết entry này tôi lên taxi về nhà. Trên đường về nhà bị kẹt xe, anh tài xế phải vất vả nhích từng cm. Mưa càng lúc càng nặng hạt. Đường xá ngập nước như trong cơn bão lụt. Ngay giữa thành phố có thời mang danh Hòn ngọc viễn đông. Anh tài xế cùng độ tuổi tôi lắc đầu ngao ngán. Anh nhìn tôi ái ngại vì quá trễ giờ. Chúng tôi nói chuyện đời. Anh chỉ vào con đường ngập nước và nói họ đang phá nát thành phố này. Tôi đồng ý. Nhưng tôi muốn thêm rằng họ cũng đang hủy hoại nền học thuật nước nhà bằng cách tạo ra một đại dịch PGS-TS-BS.



bsngoc

Xin đừng bịp bợm thế hệ trẻ chúng tôi nữa!

image

Tôi là: Một công dân Việt Nam, 30 tuổi, Đảng viên, Sỹ quan quân đội, Bí thư Đoàn và là một Nhà giáo. Thế hệ trẻ chúng tôi mặc dù được tuyên truyền, giáo dục, thậm chí là nhồi sọ rằng mình đang được sống ở một xứ sở thiên đường, một nơi mà nền dân chủ được phát huy cao độ cũng như vô vàn những điều tốt đẹp khác nhưng những gì chúng tôi nhìn thấy đang chứng minh điều ngược lại.
Như vậy, chúng tôi đang bị bịp bợm một cách trắng trợn bởi những kẻ dốt nát về trí tuệ nhưng ma giáo về chính trị. Tôi viết thư này mong muốn Dân luận đăng tải để những kẻ đó, nếu có đọc (và chắc chắn sẽ đọc, rất kỹ là đằng khác) biết rằng chúng tôi không phải là những con lừa để các vị dắt mũi đi theo con đường nào cũng được. Chúng tôi là những thanh niên tràn đầy nhiệt huyết, có học, có bản lĩnh… và chúng tôi mong muốn được đối xử xứng đáng hơn, chí ít là không bị bịp bợm. Và cũng chỉ bằng cách đó, các vị mới có cơ may kêu gọi được thanh niên chúng tôi trở thành một lực lượng hùng hậu, là “cánh tay đắc lực” theo đúng nghĩa của nó, góp sức được nhiều hơn cho Tổ quốc, cho Nhân dân (tôi không muốn nói “cho Đảng” ở đây mặc dù là một Đảng viên, vì chỉ khi nào Đảng thật sự xứng đáng, tôi mới cống hiến hết mình cho Đảng).
Sau đây, tôi muốn trình bày những gì mà các vị đã, đang, và sẽ còn (âm mưu) tiếp tục bịp bợm chúng tôi:

1. Về chính trị, tư tưởng:

- Các phương tiện thông tin đại chúng suốt ngày ra rả rằng Việt Nam là một quốc gia có nền dân chủ đầy đủ, có một Nhà nước pháp quyền đúng nghĩa. Chúng tôi hiểu rằng một nền dân chủ đầy đủ phải đảm bảo những quyền tự do cơ bản cho con người: quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do tụ họp, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng – tôn giáo, tự do về cư trú, di dân,… Nhưng thực tế thì ngược lại, tôi chẳng thấy một quyền nào được đảm bảo đầy đủ, thậm chí có những quyền bị chà đạp nghiêm trọng. Có lẽ không cần nêu những ví dụ ra đây để minh chứng cho điều đó vì các vị là những người biết nhiều hơn cả. Còn Nhà nước pháp quyền đúng nghĩa phải có Tam quyền phân lập, nhưng ở Việt Nam tồn tại một thực trạng là Đảng đứng trên cả 3 cơ quan Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp – vô hình trung trở thành một thế lực siêu nhà nước. Chính vì thế mà có những việc đáng ra không phải của mình thì Đảng lại tự nhận, còn những việc thuộc chức năng của mình thì làm không đến nơi đến chốn. Điều này dẫn đến sự chồng chéo, kém hiệu quả trong quản lý và điều hành, gây hậu quả nặng nề và hết sức tai hại cho sự phát triển của đất nước. Chúng tôi cay đắng nhận ra rằng Tổ quốc mình đang đi thụt lùi so với bạn bè quốc tế mà nguyên nhân cơ bản không phải do Nhân dân tôi ngu dốt (ngược lại IQ rất cao!?). Các vị giải thích thế nào cho thực trạng này?
Từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng tôi được giáo dục về chủ nghĩa Mác – Lênin, về phương hướng phấn đấu vươn lên trở thành Đoàn viên rồi Đảng viên Cộng sản, tin theo lý tưởng “Suốt đời phấn đấu – hi sinh vì chủ nghĩa Cộng sản”. Tôi nghĩ rằng đây là sự bịp bợm lớn nhất mà các vị dành cho thế hệ chúng tôi. Kể cả bây giờ, chứng kiến rất nhiều lễ kết nạp Đảng viên mới, tôi vẫn thấy các anh, các chị, các bạn đọc những đơn xin vào Đảng giống nhau, đều thề thốt trung thành với cái mà mình không biết là gì. Vậy tại sao các vị vẫn tiếp tục duy trì tình trạng này? Nếu không chỉ cho chúng tôi biết CNXH hay CNCS là cái gì thì mong các vị hãy đừng bắt chúng tôi đi theo những chủ thuyết đó, hãy thay thế bằng những mục tiêu, lý tưởng gần gũi mà nhân văn hơn, như các nước tiên tiến
– bạn bè của chúng ta – đang thực hiện theo chẳng hạn. Hay gần nhất với chúng ta là những luận điểm trong tư tưởng và đạo đức Bác Hồ cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Lại nói về tư tưởng và đạo đức Bác Hồ, Trung ương Đảng mà trực tiếp là Ban Tuyên giáo Trung ương phát động một cuộc vận động học tập và làm theo vô cùng rầm rộ. Đây lại là một sự bịp bợm rất lớn. Sở dĩ tôi nói thẳng đây là một cuộc vận động bịp bợm vì nó hết sức hao tiền tốn của mà không mang lại hiệu quả gì, hoàn toàn mang tính hình thức. Nhiều người trong số các tấm gương được tôn vinh trong giai đoạn thứ nhất của cuộc vận động (gọi là giai đoạn học tập) là những “tấm gương” mờ, thậm chí là những con người vô đạo đức. Chỉ riêng giai đoạn này đã ngốn không biết bao nhiêu tiền của, giấy mực, thời gian cho hội nghị, hội thảo, tuyên truyền, giáo dục, sơ tổng kết, viết bài thu hoạch,… mà nếu các vị có dịp chứng kiến có những đơn vị sau đợt sơ tổng kết đã bán giấy vụn các bài thu hoạch đóng hàng thùng lớn thì các vị mới hiểu, mình đã xúc phạm Bác Hồ kính yêu đến mức như thế nào.

2. Về giáo dục, đào tạo:

Có thể nói thẳng về tình trạng giáo dục nước nhà trong hơn 20 năm trở lại đây, xuất phát từ chính trải nghiệm của bản thân, là một nền giáo dục bịp bợm. Điều này thể hiện ở sự nhộm nhoạm, hỗn loạn, vô tổ chức vô kỷ luật, thầy không ra thầy, trò càng không ra trò, bất chấp cả những nguyên tắc cơ bản nhất của một nền giáo dục lành mạnh. Và kết quả: sản phẩm của nền giáo dục XHCN của nước nhà đa phần là những người bất tài (đến giờ phút này, đau đớn thay tôi nhận ra mình cũng là kẻ nằm trong số đó), vô dụng, cơ hội, lưu manh,… số khá hơn thì tìm mọi cách để được “tỵ nạn giáo dục” ở những nước phát triển.
Các vị có thấy tình cảnh này không? Tôi biết chắc là có, nhưng các vị vẫn để như thế dù về hình thức đang tiến hành những biện pháp cải cách tào lao, lòng vòng, tiếp tục tiêu tiền của Nhân dân cho những dự án giáo dục vô bổ. Và tôi có cảm giác, các vị đang cố gắng khuấy cho vũng nước giáo dục ngày càng đục lên để các vị, bạn bè và người thân các vị dễ dàng trục lợi. Còn con cháu các vị, không có gì phải lo cả vì chúng đã được cha mẹ, ông bà cho đi “tỵ nạn” cả rồi.
Có đau lòng không khi những kẻ vô học đi tuyển sinh những người có học (không tin, các vị cứ đến các trung tâm tuyển sinh mà hỏi, có kẻ nào làm công tác tuyển sinh mà không nhà lầu xe hơi, sống xa hoa trên sự đóng góp của thí sinh và gia đình họ trong khi không có trình độ tối thiểu để hiểu được chuyên ngành mình tuyển sinh đào tạo về cái gì, để rồi sau tuyển sinh, họ thực hiện phương châm “đem con bỏ chợ”, “sống chết mặc bay”). Có đau lòng không khi sinh viên tốt nghiệp ra trường, đa phần thất nghiệp hoặc không làm đúng chuyên môn. Có đau lòng không khi đi tuyển dụng, các doanh nghiệp thờ ơ với những người có bằng cấp cao vì theo họ không thể trả lương cao cho những kẻ chỉ có bằng cấp. Có đau lòng không khi có những thầy cô giáo hết lòng vì học trò thì bị bạc đãi, tích cực đấu tranh với tiêu cực thì bị vùi dập để phải từ bỏ niềm vinh quang được đứng trên bục giảng. Tôi gọi đây là một nền giáo dục bịp bợm chắc vẫn đang còn nhẹ vì nhiều người đã gọi đây là nền giáo dục vô nhân đạo.

3. Về kinh tế – xã hội và khoa học công nghệ:

Không được học nhiều về kinh tế nhưng tôi biết thực trạng kinh tế nước nhà không giống như những gì hay được xem, được nghe trên các phương tiện thông tin đại chúng chính thống. Các số liệu đẹp đẽ được đưa ra không đủ để khỏa lấp nỗi lo lắng ngày càng tăng của Nhân dân khi lạm phát vào bão giá như con bạch tuộc giơ những chiếc vòi gớm ghiếc vào tận bữa cơm của những gia đình nghèo. Tôi có cảm tưởng sự điều hành của các cơ quan Nhà nước không hề có vai trò gì ở đây, nếu có cũng chỉ là ngụy biện, bịp bợm cho tình trạng ngày càng tồi tệ của nền kinh tế. Các vị đừng lấy bối cảnh của vài chục năm trước ra so sánh với bây giờ để kết luận chúng tôi sướng hơn thế hệ cha anh bởi ai trong chúng tôi cũng hiểu, mức sống cao hơn không có nghĩa là chúng ta sống tốt hơn. Mà ngược lại, với cách điều hành nền kinh tế “tài ba” như hiện nay, các vị đang làm cho đất nước này từ chỗ “rừng vàng biển bạc” trở nên cạn kiệt tài nguyên (tức là không còn gì cho con cháu), ô nhiễm môi trường trầm trọng, phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ nét, xã hội hỗn loạn với đủ các loại tội phạm, thiên tai dịch bệnh hoành hành, tai nạn giao thông trở thành vấn đề thường nhật, y tế và các dịch vụ công thì trì trệ, đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng, tình cảm tốt đẹp giữa người với người đang dần bị thay thế bằng mối quan hệ dựa trên đồng tiền, không ít người dân và gia đình của họ bị bần cùng hóa do chính sách đất đai và hướng nghiệp, biến thành những tên Chí Phèo thời hiện đại… Có người đã nói không ngoa rằng sống ở Việt Nam không khác gì đem số mệnh của mình ra để đánh bạc. Vậy những gì các vị đang tuyên truyền tích cực nào là “kinh tế phát triển nhanh và bền vững”, “xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” hay “tình hình trong nước ổn định, yên bình”,… không phải là sự bịp bợm thì là gì?

Cũng chính nhờ những chính sách điều hành của các vị mà chúng tôi đang được sống trong một đất nước có nền Khoa học – Công nghệ ở hàng dưới đáy của nhân loại mặc dù trí tuệ con người Việt Nam chắc chắn không phải là kém. Tôi từng xấu hổ vô cùng khi phải nói với học trò của mình rằng nền Khoa học kỹ thuật của nước nhà không chế tạo được sản phẩm nào ra hồn, rằng chúng ta đang đi sau chính những nước trong khu vực tới hàng chục năm, còn đi sau những nước phát triển không biết bao nhiêu năm nữa. Bằng chính sách giáo dục như trên đã nói, tôi không hiểu rồi đến bao giờ chúng ta mới có được một nền khoa học – công nghệ và kỹ thuật đủ sức cạnh tranh với họ. Vậy những điều các vị rêu rao về “đi tắt đón đầu”, “đi thẳng vào hiện đại”,… không là bịp bợm thì là gì?

4. Về quốc phòng – an ninh

Là sỹ quan quân đội, tôi có đủ cơ sở để kết luận rằng những chủ trương, chính sách của các vị về quốc phòng – an ninh phần lớn là những chủ trương, chính sách mang tính bịp bợm.
Bịp bợm trước hết là bịp bợm về kẻ thù. Trong những năm gần đây, chúng tôi công nhận là với xu hướng hội nhập, chúng ta đang ngày càng thêm bạn bớt thù. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta đã hết kẻ thù. Việc xác định bạn – thù là một vấn đề hết sức trọng đại, mang tính sống còn để từ đó, xây dựng được chiến lược quốc phòng – an ninh đúng đắn, xác định được mục tiêu của công tác huấn luyện bộ đội cho phù hợp với đặc trưng của đối tượng tác chiến. Thế nhưng, hiện nay các vị đang tính bịp bợm chúng tôi rằng “anh bạn” láng giềng phương Bắc – một “anh bạn” được tô vẽ với những “4 tốt” và “16 chữ vàng” – là một anh bạn đúng nghĩa “môi hở răng lạnh”. Nhưng với những gì mà Trung Quốc đang làm mà tôi có thể liệt kê ra đây:

+ Luôn âm mưu xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam,
+ Bắt bớ, giam cầm, tra tấn, đòi tiền chuộc (không khác gì cướp biển) đối với ngư dân của ta trên lãnh hải của ta,
+ Luôn âm mưu phá hoại nền kinh tế của ta,
+ Âm mưu đồng hóa văn hóa và làm thui chột giống nòi của ta,
+ Âm mưu bòn rút cạn kiệt tài nguyên của ta,
+ Can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của Đảng và Nhà nước ta thì chúng tôi có đủ cơ sở để khẳng định, chính Trung Quốc chứ không phải ai khác đang là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất đối với nền quốc phòng – an ninh của ta. Vì vậy, các vị đừng cố tình bịp bợm những người lính chúng tôi về vấn đề này nữa.

Bịp bợm tiếp theo là bịp bợm về chính sách đãi ngộ đối với quân nhân. Các vị cho xây dựng trụ sở làm việc hoành tráng (đương nhiên bằng tiền của Nhân dân), phong quân hàm sỹ quan cao cấp búa xua, vô nguyên tắc (chính sách thay đổi xoành xoạch hàng năm) nhằm ru vỗ chúng tôi. Nhưng thực tế thì trụ sở làm việc hoành tráng nhưng lãng phí, vô dụng, không góp phần nâng cao chất lượng công tác mọi mặt trong quân đội. Việc phong quân hàm cho tướng tá không làm cho đời sống của đại đa số sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan chiến sỹ khá hơn mà chủ yếu tạo ra kẽ hở cho việc tham nhũng, chạy chức chạy quyền tràn lan ngay trong một môi trường được xem là kỷ luật nghiêm minh. Đời sống của cán bộ chiến sỹ khó khăn cộng với công tác tuyển dụng, công tác cán bộ – quân lực, công tác đào tạo nhiều bất cập dẫn đến ngày càng có nhiều cán bộ chiến sỹ tha hóa, biến chất, tham gia các tệ nạn xã hội thậm chí trở thành tội phạm nghiêm trọng mà báo chí gần đây đã đưa tin. Đại đa số chiến sỹ sau khi hết nghĩa vụ quân sự trở thành thất nghiệp, lông bông, thậm chí trở thành xã hội đen, tiếp tục rơi vào vòng luẩn quẩn của quá trình bần cùng hóa, biến thành những tên Chí Phèo phá hại làng xóm. Các vị còn muốn bịp bợm chúng tôi đến bao giờ nữa?

Cuối cùng, việc bịp bợm không chỉ dừng lại ở đó. Thời gian gần đây, các vị đang thực hiện một âm mưu mà tôi cho là độc ác và bạo tàn. Đó là các vị đang muốn biến những người lính của Quân đội Nhân dân anh hùng trở thành những công cụ bạo lực, quay mũi súng chống lại chính đồng bào thân yêu của mình, nhằm phục vụ những mưu đồ ăn cướp của các vị. Tôi xin nói để các vị rõ, chúng tôi từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu. Lý tưởng cao đẹp nhất của chúng tôi là phụng sự Tổ quốc, hiếu thảo với Nhân dân. Lời thề cao nhất mà cán bộ chiến sỹ chúng tôi tâm niệm, cao hơn nhiều so với 10 lời thề chúng tôi vẫn đọc khi chào cờ, đó là: tự bản thân mình, chúng tôi sẽ không làm tổn thương bất kỳ ai. Nhưng nếu có kẻ nào, thế lực nào âm mưu xâm hại đến Tổ quốc của chúng tôi, xâm hại đến Nhân dân chúng tôi thì chúng tôi sẵn sàng bắn thẳng vào đầu chúng mà không bao giờ phải ân hận vì điều đó. Vậy các vị có còn muốn bịp bợm chúng tôi nữa hay thôi? Nếu các vị vẫn còn âm mưu những điều đen tối chống lại Tổ quốc, chống lại Nhân dân, chúng tôi sẽ không ngần ngại quay mũi súng về chính các vị. Nhân dân và Lịch sử sẽ luôn đứng bên chúng tôi.
Với tất cả những gì đã nói ở trên, một lần nữa, tôi mong các vị hãy đừng cố gắng bịp bợm chúng tôi thêm nữa. Chúng tôi đã quá rõ bộ mặt thật của các vị rồi và chúng tôi không muốn mình được dắt đi bởi những kẻ vừa MÙ, vừa ĐIẾC mà nhất là lại VÔ LƯƠNG TÂM. Đừng coi thường thế hệ trẻ chúng tôi!

(Một bạn đọc xin được giấu tên vì nhiều lý do nhậy cảm).


Muốn coi dĩa lậu “ây si a”
Đi tù đừng oán, công an tới nhà

image
"tê tê & tê dế"

Ơ hay “độc lập tư ro”
Ba gờ (3G) coi trộm biết mò đường mu?

image
Phó thường dân