Sunday, May 31, 2015

Trịnh Cung và hành trình của “Những cuộc hoá thân tháng tư”

image
Tháng tư năm nay lại về, về như một dấu hằn, dấu mốc, dấu thất lạc, dấu nhớ, dấu vỡ, dấu khắc khoải, dấu động kinh của 40 năm xưa mà như mới hôm qua. Tháng tư cũng là khởi điểm của những hành trình hoá thân của bao nhiêu triệu người Việt đã và đang sống ở trong nước cũng như ngoài nước Việt Nam.

Giống mọi người, Trịnh Cung đã trải nghiệm một cuộc hoá thân khởi đi từ tháng 4, năm 1975. Bầu trời ông thở vào thời điểm đó, của miền Nam sau khi thua cuộc, phát ra những tia sáng mong manh và yếu ớt một buổi chiều chạng vạng. Nó đã ảnh hưởng trực tiếp vào tâm hồn người cầm cọ, lại vướng tính mẫn cảm của một kẻ yêu và thích làm thơ như ông.

image
Ông như người rơi vào vòm đêm rã rượi của tháng tư đen, như chìm trôi trong cuộc hôn mê suốt 10 năm dài, cuối cùng tỉnh lại và kịp thoát ra khỏi bóng đêm tuyệt vọng. Ông đã tìm thấy nghệ thuật là cái phao cứu độ đúng như ông đã tự bạch trong vựng tập của cuộc triển lãm cùng các hoạ sĩ đồng thời như Nguyễn Trung, Đinh Cường, Nguyễn Phước, Nguyên Khai … tại Houston, Hoa Kỳ năm 2012. “Hội hoạ luôn cứu chuộc tôi khỏi những vấp ngã, những khủng hoảng tưởng chừng không gượng dậy được..”

image
Trịnh Cung – Nghĩ về cái chết của những chiếc lá vàng ở Công viên Tao Đàn & những người đi ra từ thành phố đỏ 1 (sơn dầu trên canvas, khổ 200 cm x 150 cm, tháng Ba 2010)
Sau 10 năm buông cọ ông đã nhận ra sao không biến những đau thương của đời mình thành những tác phẩm nghệ thuật và từ sự suy nghĩ đó tác phẩm “Những cuộc hoá thân tháng tư” ra đời năm 1990 như một đứa con mang dấu ấn kinh hoàng không bao giờ có thể quên, như hệ quả sau một cuộc hiếp dâm tập thể.

Bây giờ chúng ta hãy cùng theo dõi cuộc chuyển hoá của ông và hoàn cảnh đất nước vào năm 1990 trong tác phẩm “Những cuộc hoá thân tháng tư”.

image
Những Cuộc Hóa Thân Tháng 4 (1990) , Sơn dầu trên canvas, Kích thước: 80cm x 100cm
Nhìn vào bố cục cân bằng của tranh, chúng ta thấy một lằn ranh màu xanh phân đôi bức tranh làm hai mặt phẳng, hai miền thời gian hay hai thế giới sắc màu rõ rệt. Lằn ranh ấy đồng thời miêu tả dáng cong một người phụ nữ bằng một đường ngực và hông, mở ra một chân trời mát dịu trong màu xanh pha xám lấm chấm xanh ngọc và bạc. Cách pha màu dịu nhẹ này của Trịnh Cung khiến mới nhìn, tôi có cảm tưởng như ông vẽ bằng màu nước chứ không phải sơn dầu trên bố. Lạ lắm cái màu, nửa xanh, nửa xám, nửa lam lại có vẻ trắng bàng bạc mà ông đặt tên là xanh phổ (Prusse Blue) này, theo tôi, nó diễn tả được những nội tâm phức tạp cũng như những cảm tính bất định nơi người phụ nữ.

image
Phía lằn ranh bên phải gần dưới cùng bức tranh, chúng ta thấy một con chim nhỏ màu bạc đuôi xanh. Phía trên con chim là một vòng tròn to đỏ, tượng trưng cho mặt trời và trên nữa là một mảnh trăng lưỡi liềm cũng đỏ. Màu xám bạc chung quanh vầng trăng và trong mặt trời nâng đỡ cho màu đỏ, khiến người ta nghĩ tới một tế bào máu hay giọt máu hồng. Màu đỏ cũng dịu nhẹ hơn nhờ sự hỗ trợ của xám và bạc lan toả. Trên nữa là hình một cái đầu ngựa màu nâu đất. Phía trên cùng góc trái là một đầu trâu. Còn dưới thấp trông như hình một con dao gẫy. Chung quanh những hình thể người, thú và vật là những mảng màu trắng bạc (Titanium White), nâu, xám được pha trộn làm nhạt đi, loãng ra để nổi bật lên màu chính là xanh phổ, đỏ và nâu đất.

image
Nhan đề “Những cuộc hoá thân tháng 4” là một dẫn dắt cần thiết cho người xem bước vào nội dung và ý nghĩa ẩn dụ của bức tranh. Chúng ta hãy đi ngược về quá khứ tháng tư năm 1990 để nhìn vào hoàn cảnh đất nước Việt Nam thời ấy sẽ thấy ánh sáng của bức tranh được soi rọi và hiện ra dần. Trung tâm bức tranh là người phụ nữ mà cũng là cái trục của cuộc đời xoay quanh. Dáng hình người phụ nữ ấy như ở giữa lằn ranh của hư và thực và rồi bị đẩy trượt vào quá khứ màu xanh xám. Miền quá khứ ấy là những kỷ niệm đẹp đẽ để con người hoài niệm và tiếc nuối mà con người lỡ để nó tuột khỏi tầm tay. Bên phải, trái là những mặt nạ trá hình của lũ đầu trâu mặt ngựa hiện diện như số phận hay hình hài hoá thân của kẻ dữ trong một thời đại hỗn mang. Con chim mang ẩn dụ cho số phận nhỏ nhoi của người dân bị thu mình lại. Mặt trời và mặt trăng bị nhuộm đỏ tức cả nước chìm trong màu cờ đỏ của cộng sản. Con dao như vũ khí và sức mạnh của miền nam đã bị bẻ gẫy. Đó là phía của người thua cuộc.

image
Thoạt nhìn tranh Trịnh Cung tôi nhận ra được những uẩn ức nội tâm đang được ông dùng những màu sắc nhẹ và mềm mại thể hiện. Ông sử dụng các hình tượng, chim, người phụ nữ, mặt nạ đầu trâu mặt ngựa để bộc lộ những suy tư từ lâu bị dồn nén. Ông đã dùng nghệ thuật Biểu Hiện. Tuy nhiên, vì sinh ra và lớn lên trong thời thịnh đạt của trường phái lãng mạn, cây cọ của ông thường ảnh hưởng đường nét của nghệ thuật lãng mạn. Thêm nữa, trong con người ông lại có tố chất của một người làm thơ vì vậy màu sắc và phong cách vẽ của ông không ít thì nhiều ảnh hưởng tính lãng mạn trữ tình của thi ca thời ấy. Ông không sử dụng màu dày, hay nổi bật dữ dội. Trái lại, cách ông pha màu hay chuyển đổi từ màu này qua màu kia, trông rất mềm mại, nhẹ nhàng và tinh tế. Đã vậy, hình như ông lại muốn vượt thoát ra khỏi ngôn ngữ ẩn dụ của hình thể, để vươn lên một cái gì mới hơn, vô hình thể hơn, trừu tượng hơn. Do đó, những mặt nạ, dáng người phụ nữ, con dao, đã trở nên mờ nhạt, không rõ rệt, mơ hồ và xa rời Biểu Hiện để bước vào thế giới của nghệ thuật Trừu Tượng. Phải nói là trạng thái nội tâm của ông khi vẽ bức tranh này rất là rất phức tạp, nên ông đã dùng hình thái nghệ thuật Biểu hiện – Trừu tượng (Abstract expressionism), để vẽ bức này.

image
Nói tóm lại, thông điệp của bức tranh đã nói lên được tâm trạng của Trịnh Cung vào một tháng tư và những tháng tư sau này. Tâm trạng một người nghệ sĩ tạo hình bất lực trước sự thay đổi hỗn mang của thời cuộc và đất nước. Ông, một con chim nhỏ, một kẻ lưu vong trên chính quê hương mình, không biết làm gì hơn là thu mình lại, và cất tiếng hót vào hư không.


Trịnh Thanh Thủy

http://baomai.blogspot.com/

Tưởng nhớ John Nash
Nhạc jazz: vì sao có người yêu kẻ ghét?
Nếu một ngày không có Internet ?
Khi lãnh đạo tôn giáo tôn thờ tội ác
Tiền về nơi đâu?
Ấn Độ: Cưỡng hiếp vợ không phải là tội
Trailer về phim tài liệu Thảm Họa Bắc Thuộc
Gặp Tướng bị 'cải tạo' 17 năm
Những phương pháp luyện trí nhớ
Nên thuê bạn thân vào làm việc không?
150 năm nghệ thuật trên cơ thể
5 bước giúp bạn tránh bị ngốc nghếch
Hỗn chiến ở chợ Đồng Xuân – Berlin trước thềm kỷ n...
Cái chết của Thiếu Tá Nguyễn Anh Tú và vết nhơ lịc...
Phim tài liệu: Chiến trường Việt Nam (phụ đề Việt ...
Khủng hoảng người tị nạn Rohingya
Xung quanh bạn, những thành tựu đổi mới...
Thảm họa từ nền giáo dục chết người
Thị Trưởng PhinDeli Bang Wyoming bây giờ ra sao?
Vì sao dân biểu Mỹ bảo trợ cho tù nhân Việt Nam?
Bỏ chữ 'xin' có tác dụng không?
Những hành vi tệ hại nơi công sở
Falls Church, tuyến đầu mặt trận không tiếng súng
Thành ngữ có gốc lịch sử và xã hội dưới chế...
Danh Ngôn "để đời" XHCN
Làm nguội máy điện toán, không dùng quạt
Phí tổn của Nga tại Đông Ukraine
Có thật là phụ nữ nói nhiều hơn đàn ông?
Nữ phi công đầu tiên lái F-35 Fighter
Ảnh lính Nga 'bị vứt bỏ' sau lễ kỷ niệm
20 cây bút 'từ bỏ Hội nhà văn VN'
Tỷ phú Hoàng Kiều: ‘Bút sa thì gà phải chết’
Giấy nhôm và bệnh lãng trí !
Báo động ngân sách và tiếng nói thanh niên
Dịch vụ ly hôn tăng mạnh ở Ấn Độ
Hình Cưới của một vài Tổng Thống Mỹ
Nhà nước khủng bố
Về lại Camp Pendleton
Người Sài Gòn đi máy bay 50 năm trước
Vì sao Mỹ thất bại ở Việt Nam?

Tưởng nhớ John Nash

image
Hôm nay, giáo sư toán kinh tế John Nash đã qua đời cùng với người vợ của mình, bà Alicia Nash, trong một tai nạn giao thông kinh hoàng ở bang New Jersey. Giáo sư Nash hưởng thọ 86 tuổi, còn vợ ông, bà Alicia Nash hưởng thọ 82 tuổi.

image
John Nash là một tượng đài trong ngành toán và kinh tế. Ông đoạt giải Nobel kinh tế năm 1994.
John Nash là một tượng đài trong ngành toán và kinh tế. Ông nhận giải Nobel kinh tế năm 1994 vì là người đầu tiên mở ra ngành Game Theories (lý thuyết trò chơi, hay đúng hơn là lý thuyết tương tác chiến lược). Game Theory ngày nay đã trở thành xương sống của kinh tế học hiện đại, của chính trị học, xã hội học, và nhiều ngành khoa học xã hội khác. Sở dĩ như vậy là vì Game Theories mô hình hóa tất cả các tương tác xã hội giữa con người với con người dưới dạng toán học để tìm ra các giải pháp cân bằng (equilbrium) cho mỗi tình huống. Tên của giáo sư John Nash được đặt cho một loại cân bằng này, gọi là Nash Equilibrium.

image
Những người không thuộc giới nghiên cứu kinh tế hoặc toán học ít biết đến ông. Người ta chỉ biết đến hình ảnh một thiên tài đầy bệnh tật và cuộc sống kì dị trong phim A Beautiful Mind (phim được 4 giải Oscar năm 2002). Trong film, nghiên cứu sinh tiến sĩ Nash nghĩ ra cân bằng Nash và bắt đầu đặt viên gạch đầu tiên cho Game Theory khi đi tới một bữa tiệc, và nhận thấy tương tác giữa các bạn nam và bạn nữ, khi mỗi bên đều tìm cách gây ấn tượng và chinh phục người của phe kia.

image
Nhân vật trong A Beautiful Mind tốt nghiệp tiến sĩ, lập gia đình với một cô bạn gái cùng trường, và được Bộ Quốc phòng Mỹ mời làm việc. Sau đó ông bị phát hiện có triệu chứng hoang tưởng và rối loạn thần kinh (paranoid schizophrenia), luôn cảm thấy mình là trung tâm của một vụ việc hệ trọng liên quan đến an ninh quốc gia, luôn bị theo dõi, đe dọa. Căn bệnh này đe dọa chính gia đình ông, cho đến khi ông phát hiện ra là người vợ mình luôn trẻ như ngày đầu mà không già đi chút nào, và hiểu rằng mình luôn bị ảo giác. Từ đó, ông tập sống và chấp nhận với ảo giác, với những nhân vật không có thật đeo bám mình, và trở lại cuộc sống bình thường của một giáo sư vào lúc tuổi đã già.

Ngoài đời thật của John Nash khác rất nhiều so với trong phim. Ông chưa bao giờ làm cho Bộ Quốc phòng Mỹ mà chỉ làm cho một think tank tên là RAND (think tank này làm nhiều hợp đồng nghiên cứu cho Bộ Quốc phòng). Cuộc sống ngoài đời thật của ông cũng phức tạp hơn rất nhiều lần so với trong  phim. Theo nhiều nguồn tin chính thống, John Nash từng có thời gian có khuynh hướng tình dục đồng giới (trước khi có tình yêu thật sự với Alicia và cưới).

Ông cũng có một người con trai từ lúc 25 tuổi (năm 1953) với Eleanor Stier, một y tá ở Boston, và đặt tên là John David Stier. John Nash không chịu cưới và chia tay Eleanor. Ông không mấy quan tâm đến John Stier và chỉ thi thoảng gặp. Từ khi cậu bé lên 6 tuổi, ông chủ yếu liên hệ với con trai qua thư. Sau này John Stier trở thành một y tá giống như mẹ. Sau nhiều năm vật lộn với bệnh tật và trở lại bình thường, Nash gặp lại John Stier và trách John tại sao không trở thành bác sĩ để cậu và em trai cùng bố (con của Nash và Alicia) có thể gặp nhau và giúp nhau (người con thứ hai này cũng bị bệnh rối loạn thần kinh giống John Nash).

image
Cuộc hôn nhân của John Nash và Alicia cũng không suôn sẻ. Ông bà lấy nhau tháng 2 năm 1957 và có con trai tên John C.M. Nash vào tháng 5 năm 1959 (cậu bé này không có tên trong gần cả một năm). Tới mùa Giáng Sinh năm 1962, Alicia đệ đơn li dị. Rõ ràng bệnh tật của Nash trong giai đoạn này đã làm Alicia không chịu đựng nổi. Hồ sơ của Alicia viết rằng Nash đổ tội cho bà đã cố tình hai lần đưa ông vào nhà thương điên. Ông chuyển sang sống ở một phòng khác trong nhà, và trong hơn 2 năm từ chối quan hệ vợ chồng với Alicia.

image
Sau khi li dị, Alicia lại cho phép John Nash quay lại sống cùng với mình vào năm 1970. Sự chăm sóc và sự kiên nhẫn của bà đóng vai trò vô cùng hệ trọng trong việc giúp ông dần dần khỏi bệnh loạn trí. Tuy nhiên, quan hệ của hai người giống như hai người bạn. Quan hệ tình cảm của họ chỉ sống lại vào năm 1994, sau khi John Nash được giải Nobel kinh tế. Hai người làm đám cưới trở lại vào năm 2001, 44 năm sau đám cưới đầu tiên của họ.

image
John Nash và Alicia cùng qua đời vào ngày 25 tháng 5 năm 2015 trong một tai nạn giao thông ở New Jersey như báo chí đã đưa.

Ngoài đời thật, John Nash là một thiên tài, nhưng cũng là một người lập dị, trước khi trở thành một nạn  nhân của bệnh loạn trí. Phần lớn cuộc đời ông sống trong bệnh tật. Những người thân của ông cũng vì thế mà chịu nhiều khổ đau. Con trai đầu của ông bị ông ghẻ lạnh. Con trai thứ hai bị bệnh giống như ông. Vợ ông, bà Alicia cũng gần như dành cả đời mình chăm sóc cho John Nash – như một người chồng thì ít mà như một bệnh nhân thì nhiều.
Thế nhưng, đối với những người làm nghiên cứu kinh tế (và nhiều bộ môn khoa học khác sau này), đặc biệt với người nghiên cứu Game Theory, thì tài sản mà ông để lại cho họ (và cho nhân loại) quả thật vô giá.

image
Tôi chưa bao giờ gặp ông, nhưng đã có thời là người nghiên cứu Game Theory, luôn ngưỡng mộ thiên tài của ông, và trân trọng những gì ông để lại cho khoa học. Hôm nay biết tin ông mất, và lần đọc lại những biến cố trong cuộc đời ông, nhớ lại bộ film A Beautiful Mind đã từng xem từ mười mấy năm trước, không khỏi thấy sự ra đi của ông là một mất mát quá lớn. Những dòng viết đơn giản này xin dành để tưởng nhớ ông, người cha của ngành khoa học Game Theory hiện đại.




Trần Vinh Dự

http://baomai.blogspot.com/

Jul 17, 2013
Anh Võ Đức Diên, một cư dân người Việt của thành phố Morgan Hill, tiểu bang California ở Mỹ vừa qua đã được vinh dự để ra đề thi tuyển học sinh giỏi toán của thế giới. Anh Võ Đức Diên cũng đã ra hầu hết những đề thi để ...

Mar 11, 2014
MORGAN HILL, Calif.--Anh Võ Đức Diên, một cư dân người Việt của thành phố Morgan Hill, tiểu bang California ở Mỹ vừa qua đã được vinh dự để ra đề thi tuyển học sinh giỏi toán của thế giới. Anh Võ Đức Diên cũng đã ra .

Apr 29, 2011
Toán Học và Những Con Số...Mathematics & Numbers. SOLVE THE MYSTERY 64=65. HOW CAN 64 SQUARES TURN IN to 65 squares · Is 64 = 65 ? image. Now, scroll down for the answers image. You hang in there ...

Sep 30, 2013
Bằng tính toán của mình, một học sinh 13 tuổi đang sinh sống tại thành phố Potsdam – Đức đã buộc Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) phải thừa nhận về một nguy cơ hủy diệt trái đất vào ngày Chủ nhật 13/4/2036, khi ...

Jun 22, 2011
Trong khi đội ngũ làm toán của nước ta đang thiếu những người giỏi thì hơn một nửa những người làm toán giỏi đang ở nước ngoài, trong đó phần lớn là ở Mỹ. Nước Mỹ, tất nhiên, không chỉ thu hút nhân tài người Việt mà ...

http://baomai.blogspot.com/

Nhạc jazz: vì sao có người yêu kẻ ghét?
Nếu một ngày không có Internet ?
Khi lãnh đạo tôn giáo tôn thờ tội ác
Tiền về nơi đâu?
Ấn Độ: Cưỡng hiếp vợ không phải là tội
Trailer về phim tài liệu Thảm Họa Bắc Thuộc
Gặp Tướng bị 'cải tạo' 17 năm
Những phương pháp luyện trí nhớ
Nên thuê bạn thân vào làm việc không?
150 năm nghệ thuật trên cơ thể
5 bước giúp bạn tránh bị ngốc nghếch
Hỗn chiến ở chợ Đồng Xuân – Berlin trước thềm kỷ n...
Cái chết của Thiếu Tá Nguyễn Anh Tú và vết nhơ lịc...
Phim tài liệu: Chiến trường Việt Nam (phụ đề Việt ...
Khủng hoảng người tị nạn Rohingya
Xung quanh bạn, những thành tựu đổi mới...
Thảm họa từ nền giáo dục chết người
Thị Trưởng PhinDeli Bang Wyoming bây giờ ra sao?
Vì sao dân biểu Mỹ bảo trợ cho tù nhân Việt Nam?
Bỏ chữ 'xin' có tác dụng không?
Những hành vi tệ hại nơi công sở
Falls Church, tuyến đầu mặt trận không tiếng súng
Thành ngữ có gốc lịch sử và xã hội dưới chế...
Danh Ngôn "để đời" XHCN
Làm nguội máy điện toán, không dùng quạt
Phí tổn của Nga tại Đông Ukraine
Có thật là phụ nữ nói nhiều hơn đàn ông?
Nữ phi công đầu tiên lái F-35 Fighter
Ảnh lính Nga 'bị vứt bỏ' sau lễ kỷ niệm
20 cây bút 'từ bỏ Hội nhà văn VN'
Tỷ phú Hoàng Kiều: ‘Bút sa thì gà phải chết’
Giấy nhôm và bệnh lãng trí !
Báo động ngân sách và tiếng nói thanh niên
Dịch vụ ly hôn tăng mạnh ở Ấn Độ
Hình Cưới của một vài Tổng Thống Mỹ
Nhà nước khủng bố
Về lại Camp Pendleton
Người Sài Gòn đi máy bay 50 năm trước
Vì sao Mỹ thất bại ở Việt Nam?
Thông minh chưa hẳn là điều tốt?

Nhạc jazz: vì sao có người yêu kẻ ghét?

http://baomai.blogspot.com/
Không một thể loại nhạc nào khác lại chia rẽ con người lớn đến thế, nhưng vì sao vậy? Cách đây đúng một tháng là Ngày Jazz Quốc Tế, phỏng vấn một người hâm mộ jazz và một người ghét jazz về lý do yêu và ghét loại nhạc này.

image
Miles Davis là một trong những nhân vật dễ tiếp cận nhất của nhạc jazz.

Vì sao tôi thích jazz

Mike Hobart là nhà bình luận nhạc jazz của tờ Financial Times
Loại nhạc đầu tiên thực sự đi vào lòng tôi là rock ‘n’ roll, kiểu như của Little Richard hay Elvis Presley. Nhưng rồi nhạc này chẳng mấy mà phai nhạt đi và mất dần sinh lực. Và rồi một người bạn cho tôi nghe một album của Ray Charles chơi tại Newport, được ghi âm trực tiếp tại liên hoan nhạc jazz Mỹ và tôi có được lại cảm xúc mạnh mẽ.

image
Ray Charles at Newport '60
Hồi đó là đầu những năm 1960 và tôi là một thiếu niên lớn lên ở Bắc London. Khi tôi nghe Ray Charles và Margie Hendricks cả bản “Night Time is the Right Time” và nhạc công saxophone Newman “đầu to” thổi giai điệu blues, đối với tôi thế là đỉnh cao. Tôi đã bị ngấm nhạc jazz, nó cho tôi cảm giác cuộc sống và tâm hồn, nó bơm vào đầu và cơ thể tôi.

Tôi vẫn còn nhớ lần đầu tiên nghe chơi nhạc jazz sống, trưởng ban nhạc là Humphrey Lyttelton tại câu lạc bộ Marquee ở London. Tôi cảm thấy vô cùng phấn chấn. Tôi được dạy là chơi nhạc là từ bản nhạc hoặc do nhớ thuộc lòng. Nhưng ở đây nhạc công làm chủ tình huống và tự chế ra nhạc khi chơi. Sau này tôi mới biết đó là ngẫu hứng và đó là điểm khác biệt trong nghệ thuật của jazz, tức là tạo ra trật tự trong khi đang diễn.

image
Vậy đó là vấn đề lớn tiếp theo về âm nhạc. Nó đặt ra các câu hỏi về trật tự, về hỗn loạn, về cấu trúc và về cơ hội, và hiện vẫn là như vậy. Thế nhưng cách mà các nhạc sĩ jazz ứng biến vẫn là điều bí ẩn với nhiều người, cho dù sự ứng biến là nền tảng của đàm luận giữa con người. Không một ai ngồi uống bia trong quán với bạn mà lại đọc một bản viết sẵn.

Vậy vì sao nhạc jazz lại tạo ra cảm hứng? Đó là vì chính cái nhạc loại này, khi chơi hay nhất, mang tính thách thức, phong phú và không ngừng sáng tạo. Tôi không thể tưởng tượng là không bao giờ có thể nghe lại khúc nhạc bi thương Sketches of Spain của Miles Davis hoặc trải nghiệm sự giao thoa của đàn bass và saxophone trong bản Mingus Presents Mingus, cả hai bản được ghi âm năm 1960.

image
Và tôi biết rằng trong một thập niên nữa tôi sẽ vẫn còn nghe The Epic, một bộ 3 đĩa phát hành trong tháng 5, nó tràn ngập lửa và năng lượng bởi nghệ sĩ saxophone Kamasi Washington. Trong danh sách các nghệ sĩ cùng tham gia với ông có tên nghệ sĩ piano McCoy Tyner và nghệ sĩ hip-hop Mos Def, nhưng một tháng trước tôi không nghe thấy nói về ông nữa.

Tôi luôn ngạc nhiên khi người ta cho rằng nhạc jazz tồn tại ở một cơ sở tách biệt. Nhưng hãy tìm hiểu các nhạc sĩ ở các buổi biểu diễn nhạc jazz và các tên nhạc sĩ jazz mà đôi lúc thấy xuất hiện. Đúng vậy, họ cũng kiếm sống như mọi người khác. Nhưng đó chính là vấn đề cần nói tới. Họ cũng đang tham gia vào một cái gì khác biệt hiện đang tồn tại, tích góp những ý tưởng cho jazz, cũng đúng như các ý tưởng được tích góp cho nhạc pop hoặc hip-hop và R&B.

image
Wynton Marsalis nhận mình là một người đào tạo, nhà quản lý và giám đốc nghệ thuật cũng như nghệ sĩ biểu diễn
Trong phần lớn tuổi thọ của mình, nhạc jazz không có được cấu trúc giáo dục riêng. Ấy vậy mà jazz được xác nhận là hình thức nghệ thuật đầu tiên thực sự của Mỹ. Tôi có nghe nghệ sĩ trống Art Blakey nói điều trên với khán giả tại một đêm đầu những năm 1980; anh chàng trẻ tuổi Wynton Marsalis là nghệ sĩ trumpet của Blakey đêm hôm đó. Nay Marsalis là giám đốc nghệ thuật của Jazz của New York tại Dàn Nhạc Trung tâm Lincoln, là dàn nhạc duy nhất làm việc 100% thời gian tại Mỹ.

image
Ông Marsalis (vẫn là người có những nhận xét nhạo báng về quá khứ) soạn nhạc và đi biểu diễn không ngừng và cộng tác với các nhạc sĩ thuộc thể loại khác. Và cam kết của ông cho giáo dục là vô cùng lớn. Nhờ ông và những người khác như ông mà việc học jazz hiện đã được định hình trên thế giới, và mỗi năm có hàng trăm nhạc sĩ jazz tài ba tốt nghiệp.

Một số người cho rằng điều này là tiêu cực do dẫn dắt tới một thể loại nhạc kỹ thuật cao nhưng gò bó. Một lần nữa, cũng như ở bất kỳ lĩnh vực nào, nếu ta nhìn vào những điểm tốt đẹp nhất (mà sao lại không nhỉ?) thì nhạc jazz, từ khi hòa nhập đa văn hóa đến khi thành mũi nhọn tiên phong và sự sáng tạo.

Vì sao tôi ghét nhạc jazz

http://baomai.blogspot.com/
Justin Moyer là cây bút bình luận cho báo Washington Post

Tôi thích John Coltrane cho đến khi tôi ghét ông.
Khi tôi còn là con nít, tôi không thấy ai nghe nhạc jazz. Jazz, như con khủng long, đã có từ lâu, một thể loại khó hiểu mà chỉ thỉnh thoảng được viết về trong tạp chí âm nhạc Rolling Stone khi mà các nhạc sĩ guitar chơi rock giả vờ thể hiện như các nhạc sĩ saxophone Charlie Parker hoặc Ornette Coleman.

Nhạc jazz không được ưa chuộng trong một thời gian dài và chắc chắn rằng không ai mua Jazz để nghe, cụ thể là Kind of Blue của Miles Davis, album jazz bán chạy nhất mọi thời đại, bán được khoảng 4 triệu đĩa ở Mỹ, trong khi đó Jagged Little Pill của Alanis Morissette được bán hơn 15 triệu đĩa.

Đối với một thanh niên trẻ sống ở ngoại ô Philadelphia có rất ít tiền trong túi và không có xe thì việc hiểu được nhạc của Coltrane trước thời đại internet là khó khăn lắm. Ông này mất năm 1967, 10 năm trước khi tôi ra đời.

image
John Coltrane
Tôi đi xe buýt đến một cửa hàng băng đĩa; tôi chọn ngẫu nhiên một trong những cassette của ông trên giá; tôi xem kỹ tờ danh sách gần như không thấy việc tái bản; tôi nghe đi nghe lại nhạc của ông trong lúc chơi Nintendo, dần dần tôi bắt đầu thấy nghe lọt tai những tác phẩm khó nghe như Giant Steps. Đó là một cuộc marathon mà tôi tự nguyện chạy. Và kết cục tôi thích John Coltrane.

Nhưng tôi cũng băn khoăn, nó có thực sự hay đến thế không?

Chắc chắn rằng Coltrane là bậc thầy về kỹ thuật, nghe đồn ông ta chơi đàn 12 tiếng một ngày. Nhưng với việc ông chuyển từ tác phẩm early work with Miles Davis tương đối kín đáo tới My Favorite Things mạnh bạo hơn nhiều và, trước khi ông mất, là nỗ lực thách thức chơi Jazz tự do trong tác phẩm Interstellar Space, nhạc của ông mang sắc thái truyền thống phương Tây về hòa âm, cấu trúc và tiết tấu. Điều đó không làm tôi băn khoăn, tôi thích nhạc Coltrane với tất cả hương vị của nó. Tuy nhiên âm nhạc sau này của ông có vẻ như tùy tiện làm tôi tự hỏi mình đã nghe cái gì suốt thời gian dài như vậy.

Bài Naima (1959), một bản tình ca đẹp đẽ và buồn bã của Coltrane lấy theo tên vợ ông, liệu bài này có chuyển tải được ý nghĩa giống như lời văn của Ernest Hemingway, như thơ của Gwendolyn Brooks, hoặc như ca từ PJ Harvey không? Hay là, do bài hát này đẹp đẽ, nó chỉ là sự tỏa sáng mờ nhạt và không có tố chất? Coltrane có phải là người chỉ quanh quẩn tìm tòi, tạo ra âm thanh và sự giận dữ nhưng chẳng mang ý nghĩa gì?

image
Những ngờ vực như vậy đã không ngăn cản được tôi học nhạc jazz tại trường đại học và chơi nhạc này tương đối nhưng tôi chơi không hay. Nhưng ở tầm 25 tuổi, jazz bắt đầu làm cho tôi cảm thấy hơi bị hoảng. Khi nghe A Love Supreme (1964) của Coltrane, đã một thời tôi thích bài này nhưng rồi tôi thấy đó chỉ là sự vô vọng trong từng nốt nhạc.

Tôi có thể hiểu Coltrane đã làm gì về phương diện mỹ học (tôi đã có bằng âm nhạc) nhưng nỗ lực của ông hình như viển vông.

Bài A Love Supreme và yếu tố tâm linh nửa mùa của bản này hay một cách ngẫu nhiên, cũng giống như bài Rocky Mountains hoặc DNA. Chắc chắn rằng, nhóm tứ tấu cổ điển, Coltrane cùng nhạc sĩ piano McCoy Tyner, guitar bass Jimmy Garrison và trống Elvin Jones, mang lại âm thanh sức mạnh của thiên nhiên, nhưng thiên nhiên thì hờ hững với nhân loại.
Trong khi đó những nhạc sĩ khác mà tôi ngưỡng mộ, Thelonious Monk, Sun Ra, thậm chí cả Ella Fitzgerald, dường như họ đã chế ra các bài khi họ biểu diễn mà thôi.

image
Ella Fitzgerald được người hâm mộ xem là “ca sĩ hay nhất” mặc dù kiểu nhạc jazz của cô có thể biểu lộ sự lạnh nhạt rõ ràng
Đành là nhạc jazz là ngẫu hứng và đó là yếu tố Mỹ độc đáo nhưng việc người ta thần thánh thể loại nhạc này làm tôi khó chịu. Nhạc được trân trọng đưa vào bảo tàng, đưa lên tem và các phim tài liệu Ken Burns, và điều này có vẻ là ngạo mạn. Nó là nhạc lười, tự mãn, ngủ yên trên vinh quang, những ngày vinh quang mà tôi đã bỏ lỡ nhiều thập niên. Ít nhất thì Bach đã lo ghi chép lại mọi thứ. Vậy cớ gì mà phải nghe bài Take the A Train hoặc bài Giant Steps hoặc Meditations (1966) khi mà không có thông điệp gì được truyền đạt.

Do vậy tôi nghe jazz chỉ thoảng qua. Hàng tỉ người vẫn sống sung sướng mà không cần đến Coltrane, tôi cũng có thể như vậy. Tôi đã chia tay jazz để tìm hiểu các nghệ sĩ mà tôi nghĩ họ nói được nhiều với ít lời hơn như John Lee Hooker, the Shangri-Las, Kool Keith, Black Flag, Le Tigre, Big Freedia.

image
Khi tôi thử giải thích mắc mớ của tôi đối với jazz qua đối thoại hoặc qua bài viết thì tôi bị ''ném đá''. Năm ngoái, tôi viết một bài bình luận cho tờ Washington Post về vấn đề này và nhận được hàng trăm email công kích và bình luận, kể cả một thư trả lời phũ phàng của một đồng nghiệp.

Tôi nghi rằng (hoặc biết rõ) một số người ít hiểu biết về loại nhạc này so với tôi đã khăng khăng rằng tôi thiếu hiểu biết, rằng tôi đã không nghe đúng loại jazz chính cống. Lập luận của họ là không logic; không khác gì khi nói “Tôi biết rằng anh không thích ăn dưa muối, nhưng anh đã thử ăn dưa tôi muối chưa?”

Một số khác chỉ đơn giản nghĩ lập luận của tôi là quá quắt, “Vậy anh không thích nhạc jazz. Có gì là trầm trọng?”

Đây cũng là một câu hỏi hay. Có lẽ cũng là do có một thời tôi đã thích jazz quá, tôi buộc phải hỏi những câu hỏi khó về nó nhằm tìm ra vì sao tôi không thích nó nữa.
Hoặc có thể tôi nghĩ sai lệch rằng sự tư duy sâu sắc về một ý kiến phê bình văn hoá sẽ đẩy nhạc jazz tới một lãnh địa sáng sủa hơn. Có lẽ một ngày nào đó tôi sẽ nói “Tôi đã mến John Coltrane cho đến khi tôi ghét ông ta, và đến lúc tôi lại thích ông ta.”

Tôi hy vọng như vậy. Là một người ghen ghét thì không thích thú gì.

http://baomai.blogspot.com/

Nếu một ngày không có Internet ?
Khi lãnh đạo tôn giáo tôn thờ tội ác
Tiền về nơi đâu?
Ấn Độ: Cưỡng hiếp vợ không phải là tội
Trailer về phim tài liệu Thảm Họa Bắc Thuộc
Gặp Tướng bị 'cải tạo' 17 năm
Những phương pháp luyện trí nhớ
Nên thuê bạn thân vào làm việc không?
150 năm nghệ thuật trên cơ thể
5 bước giúp bạn tránh bị ngốc nghếch
Hỗn chiến ở chợ Đồng Xuân – Berlin trước thềm kỷ n...
Cái chết của Thiếu Tá Nguyễn Anh Tú và vết nhơ lịc...
Phim tài liệu: Chiến trường Việt Nam (phụ đề Việt ...
Khủng hoảng người tị nạn Rohingya
Xung quanh bạn, những thành tựu đổi mới...
Thảm họa từ nền giáo dục chết người
Thị Trưởng PhinDeli Bang Wyoming bây giờ ra sao?
Vì sao dân biểu Mỹ bảo trợ cho tù nhân Việt Nam?
Bỏ chữ 'xin' có tác dụng không?
Những hành vi tệ hại nơi công sở
Falls Church, tuyến đầu mặt trận không tiếng súng
Thành ngữ có gốc lịch sử và xã hội dưới chế...
Danh Ngôn "để đời" XHCN
Làm nguội máy điện toán, không dùng quạt
Phí tổn của Nga tại Đông Ukraine
Có thật là phụ nữ nói nhiều hơn đàn ông?
Nữ phi công đầu tiên lái F-35 Fighter
Ảnh lính Nga 'bị vứt bỏ' sau lễ kỷ niệm
20 cây bút 'từ bỏ Hội nhà văn VN'
Tỷ phú Hoàng Kiều: ‘Bút sa thì gà phải chết’
Giấy nhôm và bệnh lãng trí !
Báo động ngân sách và tiếng nói thanh niên
Dịch vụ ly hôn tăng mạnh ở Ấn Độ
Hình Cưới của một vài Tổng Thống Mỹ
Nhà nước khủng bố
Về lại Camp Pendleton
Người Sài Gòn đi máy bay 50 năm trước
Vì sao Mỹ thất bại ở Việt Nam?
Thông minh chưa hẳn là điều tốt?
Khi Sếp tán tỉnh nhân viên trẻ